Ở trang này Quang giải đáp nghi vấn về Phật giáo đến một số quý vị.  Quý vị nào có thắc mắc gì, nghi vấn gì thì đặt câu hỏi ở hộp Shoutmix ở trang chủ, Quang sẽ trả lời đến quý vị sớm.  


        Nam-mô A-di-đà Phật, Quang có trả lời một số câu hỏi Phật pháp đến một thành viên của trang Tamtay.  Quang đăng ra đây để quý vị xem tạm, sau đó Quang sẽ sửa chữa lại để được hoàn chỉnh hơn.  Nam-mô A-di-đà Phật: 

        Hoàng Sơn hỏi: Chưa từng sinh tôi ai là tôi,trước khi sinh tôi tôi là ai?

        Huệ Quang trả lời:  Hai câu hỏi có vẻ như là một câu hỏi. Theo Phật giáo 'tôi' là 'cái ta' hay 'cái ngã' là không có thật. Phật giáo chủ trương vô ngã vì nó không có thật. Người đời không biết cứ chấp tâm giả và thân giả là có thật nên mới hình thành 'cái ta' hay 'tự ngã', gọi là 'chấp ngã' hay 'ngã chấp'. Tâm giả là do ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) biến thiên không ngừng tạo thành. Tâm giả cũng còn là do sáu căn (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo thành sáu thức (cái biết của mắt, của tai, của mũi, của lưỡi, của thân, của ý thức). Tâm giả là do tâm thật hoàn toàn trong sạch (còn gọi là Phật tánh mà ai cũng có) do bị ô nhiễm bởi môi trường xung quanh rồi hình thành vọng tưởng (là khởi tâm vọng niệm), phân biệt (là nhận thức những sự khác nhau về màu sắc, hình dáng, tính tình, trọng lượng v.v... của người, cảnh và sự việc) và chấp trước (là chấp những sự khác nhau giữa ta và người, ví dụ: màu da, chủng tộc, giai cấp, giới tính, trình độ học vấn, tập quán, tôn giáo v.v...). Tâm giả không phải hoàn toàn là giả mà là do tâm thật bị ô nhiễm từ lúc biết nhận thức, phân biệt từ lúc nhỏ cho đến lúc lớn lên mà tạo nên. Ví như gương dính bụi thì bị dơ và khi lau gương sạch bụi thì gương lại sạch. Tâm thật là tâm có từ trong bào thai của mẹ chưa biết gì và khi sinh ra còn chưa biết nhận thức, phân biệt. Tâm thật là Phật tánh hay là tâm vĩnh cữu mà ai cũng có và khi chuyển kiếp trong vòng luân hồi sanh tử vô cùng tận thì tâm đó không hề thay đổi. Vì vậy mà gọi là tâm thật. Thân giả là thân luôn thay đổi khi chuyển kiếp trong vòng luân hồi sanh tử, có khi cùng cảnh giới là người kiếp sau lại là người, có khi khác cảnh giới là người bị đọa địa ngục hoặc sanh lên cõi trời tùy theo nghiệp xấu hay tốt ở kiếp hiện tại. Thân giả là thân 'tứ đại' là đất, nước, gió, lửa mỏng manh không bền. Đất là thịt, gân, xương; nước là máu, nước mô; gió là hơi thở; lửa là hơi ấm trong người; nếu thiếu một trong bốn thứ đó thì người lìa trần. Vì thân luôn thay đổi nên gọi là thân giả. Người đời không biết nên chấp tâm giả và thân giả làm 'tự ngã' hay 'cái ta'. Tâm thật còn gọi là thân thật là Pháp thân vĩnh cữu không bao giờ mất. Tâm và thân là một vì Pháp thân có được là do sự giác ngộ và tu hành của tâm mà có được. Trong tam giới (dục giới, sắc giới và vô sắc giới) hay lục đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, thần A-tu-la, trời) thì chẳng có gì là thật cả ngoài tâm thật còn gọi là Phật tánh. Sơn nên ghé trang phụ Những lời khuyên Phật giáo của trang www.TuVaHanh.com để tìm hiểu thêm


        Hoàng Sơn:  Mạo muội hỏi bác,tu để về đâu!

        Huệ Quang:  Trong toàn bộ vũ trụ (tận hư không biến Pháp giới) có 9 cảnh giới chúng sanh và 1 cảnh giới chư Phật. Chín cảnh giới chúng sanh sắp theo thứ tự từ thấp đến cao là: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, A-tu-la, trời, Thánh A-la-hán, Phật Duyên-giác hay Độc-giác, Bồ-Tát. Cảnh giới của chư Phật (Phật toàn giác là đấng tối cao đã giác ngộ hoàn toàn) là cao nhất và Phật không còn gọi là chúng sanh. Sáu cảnh giới đầu là 6 cảnh giới của những chúng sanh phàm phu còn gọi là lục đạo luân hồi: Từ cảnh giới địa ngục cho đến cảnh giới trời. Vì các chúng sanh còn nằm trong 6 cảnh giới này vẫn còn tái sanh trở lại trong vòng luân hồi sanh tử để chịu đau khổ. Bốn cảnh giới sau từ cảnh giới Thánh A-la-hán cho đến cảnh giới chư Phật là cảnh giới của Tứ Thánh vì đã ra khỏi vòng luân hồi sanh tử không còn chịu khổ đau. Sự chuyển đổi của các chúng sanh ở ba cõi Thánh thấp từ thấp lên cao hơn là bằng cách biến hóa chứ không còn sanh ra trong bào thai mẹ để chịu đau khổ.

        Khi tu là tu từ cảnh giới thấp để kiếp sau được cảnh giới cao hơn, tuy nhiên cảnh giới của A-tu-la còn gọi là thần chiến tranh A-lu-la còn bị đau khổ nhiều. A-tu-la tánh hay nóng giận vì những A-tu-la nữ xinh đẹp của họ thường bị chư Thiên đánh cắp và những cây trồng của họ mọc cao lên đến cõi trời mới có trái ngon bị chư Thiên ăn luôn. Họ thường kéo binh đến đánh chư Thiên nhưng lần nào cũng bị thất bại vì không đủ phép thần thông. Khi ăn thứ gì thì họ chỉ ăn được 50% phần còn lại phải bỏ. Nghiệp bị sanh ở cõi A-tu-la là do tạo nhiều phước nhưng cũng tạo nhiều nghiệp xấu. Tánh hay nóng giận thì cũng bị đọa ở cõi này. Tánh nóng giận cực điểm hay quá vô minh thì bị đọa địa ngục. Khi tu thành tiên, thần hay chư Thiên hãy nằm trong vòng luân hồi sanh tử để chịu đau khổ. Những sự tu hành này lại rất khó khăn. Thời đại hiện nay có sự tu hành theo pháp môn niệm Phật rất dễ dàng lại dễ thành Phật ngay trong một đời là có thể thành tựu. Có gì không hiểu thì Sơn hỏi Quang

        Hoàng Sơn:  Nghe bác trả lời,có vẻ bác rất am hiểu về phật pháp! vậy xin hỏi bác 1 điều? bác có biết phật ở đâu không? và ý nghĩa thật sự của đạo phật là gì?? và bác nghĩ sao về đạo thiên chúa giáo!

        Huệ Quang:  Huệ Quang không dám. Quang xin phép được gọi từ Phật là Đức PHẬT để chỉ cho những Đức PHẬT toàn giác (ví dụ Đức PHẬT Thích-Ca Mâu-Ni, Đức PHẬT A-Di-Đà, Đức PHẬT Dược-Sư) với nghĩa cung kính. Quang xin phép được gọi từ Phật là Phật để chỉ cho các chúng sanh là Phật chưa thành và hòa hợp với tiếng gọi Phật chung. Từ Phật theo Trung Quốc có nghĩa là giác ngộ. Họ cũng nói 'Phật giả, giác giả' có nghĩa là Đức Phật là thật, vì đã hoàn toàn giác ngộ. Ngạn ngữ Phật giáo có câu 'Tức tâm, tức Phật' nghĩa là 'Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm.' Câu này có thể được giảng giải một cách dễ hiểu hơn là 'Khi đã giác ngộ và tu hành thì là Phật, khi còn mê thì còn là chúng sanh.' Theo suy nghĩ của Quang, từ Phật có ba nghĩa:

         1. Chúng sanh là Phật chưa thành:  Đức PHẬT thuyết "Ta là PHẬT đã thành, chúng sanh là PHẬT sẽ thành." Đức Phật là Phật đã thành vì đã sớm giác ngộ, thấy được Phật tánh, sớm tu hành để làm những điều cần làm, loại bỏ những điều cần loại bỏ để cuối cùng thành một Đức Phật. Chúng sanh ngược lại với Đức Phật vì chưa sớm có được những điều trên. Tuy nhiên vì có Phật tánh nên chúng sanh cuối cùng cũng giác-ngộ và sớm tu-hành để cuối cùng thành một Đức Phật.

         2. Đức Phật Duyên Giác và Đức Phật Độc giác:  Là những Đức Phật đã giác ngộ nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ như những Đức PHẬT toàn giác. Toàn giác nghĩa là giác ngộ hoàn toàn. Tuy nhiên các Ngài cũng xứng đáng được gọi là những Đức Phật. Những Đức Phật này tu hành theo pháp Mười hai Nhân-Duyên để mà thành tựu thành những Đức Phật Duyên Giác và Đức Phật Độc giác.

         3. Đức PHẬT toàn giác: Là những Đức PHẬT đã giác ngộ hoàn toàn. Các Ngài tu hành theo những pháp Lục độ, vạn hạnh để mà thành tựu.


        Chư PHẬT xuất hiện ở thế gian vì muốn cứu độ các loài hữu tình, để giúp chúng sanh 'phá mê, khai ngộ'. Những loài hữu tình là những loài có cảm giác và có suy nghĩ. Những loài hữu tình mà chúng ta có thể dùng mắt thường để thấy được là người, động vật. Những loài hữu tình mà chúng ta không thể thấy bằng mắt thường là những chúng sanh ở cõi địa ngục, ngạ quỷ, A-tu-la, chư Thiên v.v... Ngược lại những loài hữu tình là loài vô tình không có cảm xúc và suy nghĩ. Ví dụ: khoáng vật gồm có đất, đá, núi, sông v.v... thực vật gồm có cây, cỏ, dây leo, lùm cây v.v... Loài vô tình cũng có thể thấy được và không thấy được. 'Phá mê, khai ngộ' là dẹp bỏ những sự thấy và biết sai lầm của thế gian để mà thay thế bằng những sự thấy và biết đúng đắn theo như Đức Phật đã thuyết trong kinh điển. Chư PHẬT cũng xuất hiện ở thế gian là vì muốn 'khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến' nghĩa là muốn giúp chúng sanh mở mắt ra, thức tỉnh ra để thấy được rồi tu-hành theo những cái thấy-đúng và biết-đúng của Đức Phật mà Ngài đã thuyết trong kinh-điển.


        Thiên Chúa giáo còn gọi là Cơ Đốc giáo do Đức Chúa trời hoặc Đức Chúa Cha sáng lập ra. Đức Mẹ Maria là trinh nữ sanh ra Đức Chúa con là Chúa Giê-su. Đức PHẬT gọi đạo Chúa nói riêng và toàn bộ các đạo khác ngoài đạo Phật ra nói chung là 'tà tri, tà kiến' nghĩa là biết sai lầm và thấy sai lầm. Đạo Phật khác hẳn là 'Chánh tri, chánh kiến' nghĩa là biết đúng và thấy đúng sự thật của bản thân, trời đất quỷ thần và những hiện tượng môi trường xung quanh. Những sai lầm của tất cả các ngoại đạo thì có nhiều, cao cấp nhất nên khó nhận biết là còn 'chấp ngã', 'chấp pháp' và 'chấp có'. Tuy nhiên Ngài cũng khuyên là cần tôn trọng các Giáo Chủ, giáo pháp và tín đồ của ngoại đạo. Hòa Thượng Tịnh Không cũng khuyên là chúng ta nên đoàn kết với ngoại đạo, xem họ như anh em chú bác và xem những tín đồ Phật giáo của các môn phái khác là anh em ruột. Đạo Chúa và tất cả các ngoại đạo khác chỉ có Nhân thừa và Thiên thừa của thế gian mà không có những giáo pháp siêu phàm nhập Thánh của Xuất thế gian như cách tu chứng A-la-hán, Duyên giác thừa, Bồ-Tát thừa và Phật thừa của Phật giáo. Ngoài ra đạo Phật còn có Pháp môn niệm Phật độc nhất vô nhị mà nếu tu hành đúng thì có thể thành Phật ngay trong một đời hay là với thời gian ngắn nhất là hai năm.

        Chư Phật và chư Bồ-Tát ở trên mây có khi ngắm nhìn xuống những người thế gian đang tất bật bận rộn thì than rằng "Than ôi! Những người này thật đáng thương vì đang mê và không biết cách tu-hành. Những ai không biết pháp-môn niệm-Phật để tu-hành rồi vãng-sanh nghĩa là thoát ly sanh tử ngay trong một đời hay ngắn hơn nhiều thì thật là đáng thương."



        Mới:  Những câu hỏi mới của Hoàng Sơn và những câu trả lời mới của Huệ Quang: 

        Hoàng Sơn:  Xin hỏi chú,đức Phật Thích Ca có phép để làm thay đổi số mệnh của cháu không?

        Huệ Quang:  Đức PHẬT Thích-Ca sẽ không làm vậy, nói theo nghĩa xấu ác, vì hơn ai hết Ngài biết rất tường tận về Nhân Quả. Chỉ có những người xấu ác mới làm vậy như trường hợp trù, ếm, bùa, ngãi, v.v...  có nói rõ trong Kinh Dược-Sư Bổn-Nguyện Công-Đức.  Còn việc làm cho Sơn được chứng quả, đắc quả tốt đẹp mà không cần phải tu hành gì cả thì cũng không được. Ngài thuyết "Các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, Ta chỉ là bậc Đạo Sư dẫn đường."  Số mệnh của Sơn là do Sơn định đoạt không ai thay đổi được. Khác với tất cả ngoại đạo là số mệnh của họ tùy vào các 'Đấng tối cao' và các thần linh.  Các giáo chủ này bắt họ phải làm rất nhiều điều tín ngưỡng giáo điều, nếu không làm thì sẽ bị phạt rất nghiêm khắc. 


        Hoàng Sơn:  Chú ơi có ma thật không ạ?

        Huệ Quang:  Rõ ràng và hoàn toàn là có ma. Chú đã trực tiếp nói chuyện với ma vài lần, nhìn thấy họ vài lần, cảm thấy sự hiện diện của họ qua những giác quan của chú như mắt, tai, cảm giác, v.v... và trong mơ.  Chú gặp quỷ 2 lần, bị quỷ Cưu-bàn-trà đè một lần. Trước đây chú mua nhà ở 1 mình khoảng 1 năm. Ở nhà để giữ nhà cho em trai khoảng 1 năm. Ai nói trên đời không có ma là hoàn toàn bịa đặt và không thực tế.  Có hai cách thấy ma chắc chắn: Đi vào nghĩa địa hay vào căn nhà hoang bỏ trống vài năm vào ban đêm. Ngoài ra có thể cầu cơ để biết là họ có thật. Ma và quỷ là có thật 100% vì chú đã tận mắt thấy họ tại đất nước có nền văn minh bậc nhất thế giới là nước Mỹ. Người Việt nam thường thấy ma nhiều vì người chết thường được đem chôn chứ không đem thiêu xác như bên Mỹ. Những người thường hay thấy ma là những người quá gan, thách thức họ thì họ cho thấy. Những người hợp vía và ngày, tháng, năm sinh cũng bị ma cho thấy và nhập vào xác. Những người hay xem phim ma, đọc truyện ma, nghe kể chuyện ma, hay suy nghĩ về ma cũng bị ma biết và có thể theo để hại. Những người không suy nghĩ về ma hay quá nhát gan thì hiếm khi gặp ma. Ma sợ nhát người quá nhát gan làm họ chết nên ma bị mang nghiệp xấu. Ma có nhiều loại là ma người, ma động vật cưng như chó, mèo, v.v..., ma gia cầm, ma gia súc, ma côn trùng, v.v... Ma thường sống trà trộn và sinh hoạt chung với người mà người không biết. Ban ngày thì dương thịnh, âm suy vì ban ngày người năng hoạt động, có nhiều ánh sáng và thời tiết ấm áp. Ban đêm thì âm thịnh, dương suy vì người nghỉ ngơi, thiếu ánh sáng và khí hậu lạnh lẽo. Đại đa số loài người chúng ta thường sống theo nghiệp ma mà không biết. Theo Phật giáo, ma có 4 loại:

        01. Phiền não ma: Phiền não hay còn gọi là kiết sử là những biến thoái của tâm hay làm náo động tâm trí. Có mười phiền não chính là:  1. Tham, 2. Sân, 3. Si, 4. Mạn (tự cao ngã mạn), 5. Nghi (nghi ngờ), 6. Ác kiến (suy nghĩ hung ác), 7. Tà kiến (mê tín dị đoan), 8. Biên kiến (gồm có thường kiến: Chấp là sau khi chết thì nghiệp tốt, xấu còn hoài và đoạn kiến: Chấp là sau khi chết thì nghiệp, tốt xấu đều mất hết cả. Dĩ nhiên những nghiệp tạo ra không thể kéo dài mãi mãi nhưng người tạo nghiệp tốt thì phải nhận nghiệp tốt, ví dụ: Được làm người, lên thiên đàng là cõi trời, người tạo nghiệp xấu thì phải trả nghiệp xấu, ví dụ: Bị đọa ở ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và loài A-tu-la. Nghiệp tốt nhận và nghiệp xấu trả xong xuôi thì nghiệp mới hết.), 9. Kiến thủ: Bảo thủ những quan niệm sai lầm của mình mà không đúng với Phật giáo và 10. Giới cấm thủ: Là sự bảo thủ những giới cấm sai lầm được các giáo chủ của ngoại đạo và tà đạo đặt ra. Ngoài ra còn có 20 phiền não phụ mà chú sẽ đăng sau.

        02. Ngũ ấm ma: Còn gọi là ngũ uẩn, đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến thiên không ngừng mà người đời nhận lầm là tâm. Thực ra tâm đó là tâm giả vì trong kinh Bát Nhã Ba-la-mật đa Tâm Kinh thì Ngài Quán-Thế-Âm có nhận xét năm uẩn hay năm ấm đó là giả:

        "Sắc tức là không,
        Không tức là sắc (sắc <=> là không có thật),
        Thọ, tưởng, hành, thức,
        Đều là như vậy (thọ, tưởng, hành, thức <=> đều là không có thật)."

        03. Tử ma: Là sự cản trở lớn của một người tu hành trên bước đường tu hành khi phải tuân theo định luật vô thường sanh, lão, bệnh, tử. 

        04. Thiên ma: Là ma trên cõi Trời gồm có Ma vương và quyến thuộc của y.

        Đó là sự thật đáng buồn. Đại đa số loài người chúng ta thường sống theo nghiệp ma, dễ bị ma dựa, dễ bị ma hại mà không biết.

Có gì không hiểu thì cháu hỏi
thêm chú 


        Hoàng Sơn:  Cháu cũng nhìn thấy ma một lần nhưng không biết có đúng không nữa? 

        Huệ Quang:  Cháu muốn biết ma là thật hay giả thì có những cách sau đây:

        01. Ma là cái bóng trắng, người có xương thịt và có thể mặc áo nhiều màu.
        02. Ma bay vất vưởng, có thể thoắt biến thoắt hiện, có thể bay theo hình zig zag, có thể bay lướt như làn sóng và tốc độ di chuyển rất nhanh. Người đi hay chạy tốc độ chậm.
        03. Ma đứng hỏng đất, người đứng hai chân trên mặt đất.
        04. Ma mắt thâm quầng, mặt mày và thân thể tái mét, thái độ lạnh lùng hay tùy theo sự biến hiện của họ. Người mắt linh hoạt tỉnh táo, mặt mày tươi vui, thân thể ấm áp, thái độ vui vẻ hòa đồng.
        05. Ma rất sợ ánh sáng, nơi ấm áp và đông người. Họ ưa nơi tối tăm, lạnh lẽo và không có người. Họ ưa xuất hiện vào hai giờ duy nhất: 12 giờ khuya hay 03 giờ sáng. Người thì ngược lại và có thể đi tới lui bất cứ lúc nào vào ban ngày.
        06. Ma nhìn trong gương thì không thấy, người thì ngược lại có thể thấy trong gương. Cái này chú chưa thử nhưng để bữa nào chú thử.
        07. Ma muốn cho người nào đó biết sự xuất hiện của họ thì họ thường tạo tiếng động bằng cách làm rớt đồ đạt, gõ đồ đạc, làm cho đèn điện chớp chớp hay tắt một khoảng rồi bật trở lại. Ma khi ghét người nào thì họ nổi gió ầm ầm ở ngoài trời trong xóm người đó vào lúc 12 giờ đêm hay 03 giờ khuya. Lúc đó chó mực sủa rên rỉ rồi tru lên từng khoảng dài (như chó sói nhưng mà không phải chó sói) làm cho những loài chó khác cũng ầm ầm sủa theo. Người thì gặp mặt nói chuyện và không biết những sự biến hóa.
        08. Ma rất thích ngồi Thiền và luôn giữ tâm cho trong sạch. Khi họ ghét người nào thì khi người kia đang ngồi Thiền họ thường tạo tiếng động mạnh ở ngoài sân hay làm cho người khác tạo tiếng động mạnh ở ngoài sân.
        09. Ma rất thích đọc kinh điển và tu hành. Đặc biệt là kinh Đức PHẬT Thuyết Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo vì họ thấy rõ những sai lầm của họ đã làm khi còn sống khi đọc kinh này. Người không có căn cơ thì sự đọc kinh điển có thể gây cho họ sự nhàm chán.
        10. Ma được chụp hình hay quay phim thì không thể thấy được trừ khi họ muốn cho thấy và người thì ngược lại. 

        Hai câu sau đây là bổ sung thêm: 

        11.  Có loài ma rất ghét ngồi Thiền, nghe tụng kinh, trì chú.  Khi người nào không may bị họ nhập vào mà người đó đi đến đến chùa để tụng kinh thì họ rất khó chịu, khi người đó trở về nhà thì họ sẽ hành hạ cho người đó thân tâm không yên ổn, bệnh hoạn này nọ để trả thù việc người kia đi đến chùa tụng kinh làm cho họ nhức đầu khó chịu. 

        12.  Ma không thể vào chùa được trừ loài ma là vong linh Phật tử đã qua đời rồi được các Thầy Cô cúng tế cho họ.  Người ác hay người dữ không tôn trọng chùa cũng không thể vào chùa được và sẽ bị Bồ-Táp Hộ-Pháp ngăn cản và có biện pháp.  Người thường có thể ra vào chùa được nhưng phải hết lòng tôn trọng Bề Trên và quy củ trong chùa. 

        Ngoài ra những khi cháu mệt mỏi trước khi ngủ, đêm đó cháu nằm mơ thấy ma thì có 02 trường hợp:  Một là do cháu mệt nên nằm mơ thấy ma, hai là do có ma theo cháu.  Khi cháu khỏe trước khi đi ngủ mà đêm đó cháu nằm mơ thấy ma thì cháu thật sự đã bị ma theo !!  Cháu nên nhờ Thầy cúng để hóa giải hồn ma đó đi chỗ khác.  Cháu có thể nhờ chú và chú sẽ hóa giải hồn ma đi khỏi cháu miễn phí.  Cháu không hiểu điều gì thì hỏi thêm chú


        Hoàng Sơn:  Sao chú ơi ở Việt nam mọi người tu hành đều lấy họ (THÍCH) sao ở Tây tạng cháu không thấy họ lấy họ Thích chú nhỉ?
        Huệ Quang:  Người Việt nam xuất gia tu hành lấy họ THÍCH để được là Thích tử của Như Lai và là sứ giả của Như Lai. Như Lai là một trong mười danh hiệu của Đức PHẬT, Thích tử là người con họ Thích của Đức PHẬT và sứ giả là con trưởng của Như Lai có nhiệm vụ hoằng pháp độ sanh. Đức PHẬT có tên họ là Thích-Ca Mâu-Ni. Người Tây Tạng xuất gia tu hành không lấy họ Thích là vì phong tục tập quán của họ khác. Họ tu hành theo phái Mật tông khác với người Việt nam tu hành theo những phái Liên Hoa tông, Thiền tông và Tịnh độ tông. Có gì không hiểu thì cháu hỏi
thêm chú


        Câu hỏi mới của Hoàng Sơn và câu trả lời mới của Huệ Quang: 

        Hoàng Sơn:  Cháu cứ tưởng tu đạo Phật thì tất cả phải giống nhau chứ ạ?  Sao lại có các phái Mật tông, Thiên Thai tông, Thiền tông và Tịnh Độ tông khác nhau chú nhỉ?  Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni tu theo phái Mật tông, phái Thiên Thai tông, phái Thiền tông hay Tịnh Độ tông ạ?

         Huệ Quang: Tất cả các tông phái khác nhau đều do Đức PHẬT Thích-Ca Mâu-Ni thuyết ra trong kinh điển. Mặc dù các tông phái khác nhau có phương tiện (cách tu hành) khác nhau nhưng cứu cánh (mục đích tu hành là được giải thoát) vẫn như nhau. Những sự khác nhau của các tông phái này như sau:

        1. Phái Mật tông của Tây tạng tu hành bằng cách thường niệm chú (Dharani đọc theo âm Việt ngữ là Đà-la-ni hay Đà-ra-ni) để được 'tam mật tương ưng' thì được giải thoát. Tam mật tương ưng là phải thường niệm chú làm sao để mà thân mật, khẩu mật và ý mật trùng với nhau thì được giải thoát.

        2. Phái Thiên Thai tông là một trường phái của một số người Trung Quốc sáng lập dựa trên Kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa làm nền tảng. Phép tu của Thiên Thai tông dựa trên phép thiền Chỉ Quán và chứa đựng các yếu tố Mật tông như là Mantra (thần chú) và Mandala (Việt ngữ đọc là Mạn-đà-la).  Tuy nhiên phái này cũng do Đức PHẬT Thích-Ca Mâu-Ni thuyết ra.

        3. Phái Thiền tông là phái ngồi Thiền hay tọa Thiền. Nếu muốn được giải thoát thì phải ngồi Thiền cho đến độ thấy được chân như bản tánh hay minh tâm kiến tánh hay bản lai diện mục (những nhóm từ tuy khác nhưng đều cùng một nghĩa là Phật tánh) thì được giải thoát. Cách tu Thiền tuy là dễ hơn rất nhiều so với các môn phái khác nhưng trên thực tế thì rất hiếm ai tu chứng để được giải thoát, ngoại trừ các Thiền Sư tu hành lâu năm.

        4. Phái Tịnh Độ tông nói chung và phái niệm Phật nói riêng (nhiều người Đài Loan và Việt nam tu hành theo phái niệm Phật để được giải thoát) tu hành bằng cách niệm Phật để được giải thoát. Nếu muốn được Vãng sanh, nói cách khác là đạt được cứu cánh giải thoát, thì phải niệm ít nhất là 10,000 lần hay hơn nữa hồng danh của Đức PHẬT A-Di-Đà trong một ngày.  Sau thời gian ít nhất là hai năm có thể được Vãng sanh. Khi niệm như vậy thì tâm sẽ được 'nhất tâm bất loạn', nghĩa là trong tâm chỉ có câu niệm Phật không còn vọng tưởng nào khác, thì sẽ dễ được vãng sanh.

        Như trên cháu đã thấy mặc dù các tông phái khác nhau có phương tiện khác nhau nhưng cứu cánh vẫn đồng như nhau.

        Tất cả các pháp môn khác thì tu hành bằng cách 'tự lực', nghĩa là hành giả tự sức của mình tu hành không nhờ vào ai khác để được giải thoát. Tu hành bằng những cách này rất khó được giải thoát vì phải tự sức mình không nhờ ai khác, hoàn cảnh tu hành thường không phù hợp, thời đại văn minh có quá nhiều thứ gây ô nhiễm cho tâm như là sách, báo, tạp chí, phim, truyền hình, radio, băng đĩa, cassettes, thơ từ, mạng truyền thông, v.v... nghĩa là thời đại không phù hợp để tu hành theo những pháp môn đó để được giải thoát. Trong 84,000 pháp môn do Đức PHẬT Thích-Ca Mâu-Ni thuyết ra thì chỉ có pháp môn niệm Phật là dễ tu hành nhất lại dễ giải thoát nhất. Dễ tu hành là vì bất cứ ai cũng có thể tu hành được, nói cách khác là niệm Phật để dẹp bỏ vọng tưởng để tâm được trong sạch; ở mọi lúc, mọi nơi và mọi hoàn cảnh. Dễ giải thoát là vì đây là pháp môn duy nhất tu hành theo 'tha lực' chứ không phải 'tự lực', nghĩa là pháp môn nhờ vào sự hộ niệm của chư PHẬT khi mà mình niệm Phật, cùng với sự phù hợp với bổn nguyện của Đức PHẬT A-Di-Đà, nên dễ được Vãng sanh. Pháp môn niệm Phật là pháp môn 'Lý thật cao siêu, Sự thật giản dị', lý là lý thuyết, sự là thực hành. Nhiều ông già, bà cả không biết chữ, không học Phật pháp gì cả; chỉ lấy lòng tin vào pháp môn niệm Phật, suốt ngày cứ niệm Phật vậy mà được Vãng sanh. Pháp môn niệm Phật là pháp môn duy nhất mà dễ tu, dễ chứng, hợp thời cơ ở thời đại hiện nay.

        Chú đọc kinh thấy Đức PHẬT Thích-Ca Mâu-Ni tu hành theo Pháp Hoa tông, Thiền tông. Hòa Thượng Tịnh Không giảng là Đức PHẬT cũng niệm Phật để được giải thoát. Nếu có gì không hiểu thì cháu hỏi thêm chú