Lược Giảng Giáo Nghĩa

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện,

phần 3

(Nguyên tác: Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị)

Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

(dịch theo bản in của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001)

 

2. Tỏ rõ tánh đức thù thắng của kinh: Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc

      Chánh kinh:

      Thiện nam tử! Thị vi Bồ Tát Ma Ha Tát thập chủng đại nguyện, cụ túc viên mãn. Nhược chư Bồ Tát ư thử đại nguyện, tùy thuận thú nhập, tắc năng thành thục nhất thiết chúng sanh, tắc năng tùy thuận A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, tắc năng thành mãn Phổ Hiền Bồ Tát chư hạnh nguyện hải.

Thị cố thiện nam tử! Nhữ ư thử nghĩa, ưng như thị tri.

(Này thiện nam tử! Đấy là mười đại nguyện đầy đủ viên mãn của Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu các Bồ Tát đối với các đại nguyện này mà có thể tùy thuận, thú nhập thì sẽ có thể thành thục hết thảy chúng sanh, sẽ có thể tùy thuận Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ có thể thành tựu trọn vẹn biển các hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.

Vì thế, thiện nam tử! Đối với nghĩa này, ông nên biết như thế)

 

Kinh này là kinh Đại Thừa. Thiện nam tử, thiện nữ nhân được nhắc đến trong Đại Thừa tiêu chuẩn rất cao. Phải làm được tất cả mọi điều trong mười câu nói về ba thứ phước của Quán kinh thì kinh Hoa Nghiêm mới gọi là thiện nam tử, thiện nữ nhân.

Đại ý của đoạn kinh văn này là: Những nguyện nói ở phần trên chính là mười đại nguyện của hàng đại Bồ Tát, cũng chính là các hạnh của Bồ Tát được quy nạp thành mười loại lớn (số Mười tượng trưng cho ý nghĩa viên mãn). Bồ Tát tích cực tu học mười nguyện thì sẽ có thể thành thục hết thảy chúng sanh. Thành thục hết thảy chúng sanh tức là có thể phổ độ trọn hết thảy chúng sanh. Phổ độ chưa chắc là độ thoát viên mãn, còn “thành thục” thì có thể nói là độ thoát gần như viên mãn.

Việc quy kết về Tây Phương Cực Lạc thế giới được biểu lộ qua ý nghĩa của hai chữ “thành thục”, tức là chân thật viên mãn. Nếu như chẳng dùng đến pháp môn này, rất khó thể thành thục. Thành thục là ngay trong một đời này, quý vị sẽ thành Phật. Trong một đời này chẳng thành Phật thì chẳng được gọi là “thành thục”. Như chúng ta bây giờ có thể thành Phật được chăng? Niệm Phật có thể thành Phật! Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả; vấn đề là chúng ta có chịu niệm hay không, tâm chúng ta cầu vãng sanh có chân thành hay chăng? Nếu lúc có lúc không, dù niệm Phật lâu ngày cũng chẳng cảm ứng!

Đồng thời, có thể tùy thuận Bồ Đề. Đây chính là nói “một đời thành Phật”. Người niệm Phật đúng là thành tựu ngay trong một đời; chưa tắt hơi đã thấy Phật đến tiếp dẫn, bảo với quý vị: “Phật đến rồi, ta theo Ngài đi thôi!”, liền tiêu sái ra đi. Đấy là theo Phật ngay khi còn sống, thân thể hệt như một bộ y phục rách, vất đi chẳng màng. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, một đời thành Phật. Bởi thế pháp môn này gọi là pháp môn “thành tựu ngay trong một đời”.

Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát nói chẳng sai, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thể thật sự tu viên mãn mười nguyện Phổ Hiền. Bởi lẽ, được bổn nguyện công đức của Phật A Di Đà gia trì, oai thần lực của Phổ Hiền Bồ Tát gia trì, về Tây Phương thì quý vị mới được tự tại tu mười đại nguyện vương.

 

Chánh kinh:

Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dĩ mãn thập phương vô lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát, cực vi trần số nhất thiết thế giới, thượng diệu thất bảo, cập chư nhân thiên tối thắng an lạc, bố thí nhĩ sở nhất thiết thế giới sở hữu chúng sanh, cúng dường nhĩ sở nhất thiết thế giới chư Phật, Bồ Tát, kinh nhĩ sở Phật sát cực vi trần số kiếp, tương tục bất đoạn, sở đắc công đức; nhược phục hữu nhân, văn thử nguyện vương, nhất kinh ư nhĩ, sở hữu công đức tỷ tiền công đức, bách phận bất cập nhất, thiên phận bất cập nhất, nãi chí ưu-ba-ni-sa-đà phần, diệc bất cập nhất.

(Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân đem bảy báu thượng diệu (1) và các sự an lạc tối thắng của trời người đầy khắp hết thảy thế giới nhiều như số cực vi trần của mười phương vô lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật để bố thí cho tất cả chúng sanh trong ngần ấy hết thảy các thế giới, cúng dường chư Phật, Bồ Tát trong ngần ấy hết thảy thế giới, trải các kiếp nhiều như số cực vi trần của ngần ấy những cõi Phật, liên tục chẳng ngớt, đạt được công đức. Nếu lại có người nghe nguyện vương này một phen thoảng qua tai, thì công đức của người trước đạt được so với công đức người sau đạt được chẳng bằng một phần trăm, chẳng bằng một phần ngàn, cho đến một phần ưu-ba-ni-sa-đà cũng chẳng bằng được)

 

Ví như có người (ý nói người bình thường) lúc nghe pháp sư giảng kinh, nghe được mười đại nguyện vương, nghe thật rõ ràng, thật minh bạch, cũng hiểu được ý nghĩa, in dấu trong tám thức điền thì công đức ấy thật to lớn. Công đức ấy là công đức chân thật, bởi lẽ một phen thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo. Huống hồ là pháp môn đệ nhất, kinh bậc nhất của Phật đã nói, hạt giống ấy gieo vào A Lại Da Thức, tương lai gặp duyên, nhất định thành thục. Bởi vậy, công đức chẳng thể nghĩ bàn.

 

Chánh kinh:

Hoặc phục hữu nhân, dĩ thâm tín tâm, ư thử đại nguyện, thọ trì, độc tụng, nãi chí thư tả nhất tứ cú kệ, tốc năng trừ diệt Ngũ Vô Gián nghiệp, sở hữu thế gian thân tâm đẳng bệnh, chủng chủng khổ não, nãi chí Phật sát cực vi trần số nhất thiết ác nghiệp, giai đắc tiêu trừ. Nhất thiết ma quân, Dạ Xoa, La Sát, nhược Cưu Bàn Trà, nhược Tỳ Xá Xà, nhược Bộ Đa đẳng, ẩm huyết, đạm nhục, chư ác quỷ thần, giai tất viễn ly, hoặc thời phát tâm, thân cận thủ hộ.

(Nếu lại có người, do tâm tin tưởng sâu xa, đối với những đại nguyện này, thọ trì, đọc tụng (2), cho đến biên chép một bài kệ bốn câu, mau trừ diệt được nghiệp Ngũ Vô Gián (3); tất cả các thân bệnh, tâm bệnh trong thế gian, các thứ khổ não, cho đến hết thảy ác nghiệp nhiều như số cực vi trần của một cõi Phật, đều được tiêu trừ. Hết thảy ma quân, Dạ Xoa, La Sát, hoặc Cưu Bàn Trà, hoặc Tỳ Xá Xà, hoặc Bộ Đa (4) v.v… các loại quỷ thần uống máu ăn thịt, thảy đều tránh xa, hoặc có lúc phát tâm, thân cận, thủ hộ)

 

Tu hạnh nguyện Phổ Hiền lợi ích thù thắng như sau:

Thứ nhất là tiêu nghiệp chướng. Chúng ta tạo rất nhiều ác nghiệp, thân lẫn tâm đều có bệnh, phiền não nặng nề, lắm khổ não, làm sao tiêu trừ đây? Ba chữ “thâm tín tâm” là mấu chốt. Chúng ta mỗi ngày thọ trì, đọc tụng, biên chép (lưu thông) mười đại nguyện vương thì có thể tiêu trừ được nghiệp chướng hay chăng? Có thể làm cho bệnh khổ được lành hay chăng? Được chứ! Chỉ cốt sao chúng ta tín tâm sâu xa, tin sâu chẳng nghi sẽ được cảm ứng. Kinh Kim Cang dạy: “Tín tâm thanh tịnh thời sanh Thật Tướng”. Sanh Thật Tướng là minh tâm kiến tánh, là Lý Nhất Tâm Bất Loạn của người niệm Phật. Nói cách khác, quý vị thành đại Bồ Tát, tội nghiệp nhất định phải tiêu trừ.

Tâm thâm tín rất trọng yếu, tâm thâm tín là một mảy ngờ vực cũng chẳng có. Bộ kinh mười đại nguyện vương này mỗi chữ đều là lời dạy răn chân thành của Như Lai; một câu nói sai trái, một câu giả dối cũng chẳng có, thật đáng tin tưởng, y giáo phụng hành. Tín tâm kiên định, tín tâm thanh tịnh như thế y chiếu phương pháp trong kinh điển mà hành, sẽ đạt được hiệu quả.

Hiệu quả thứ nhất là tiêu nghiệp chướng. Thứ hai là tất cả hết thảy bệnh khổ đều khỏi hẳn. Thứ ba, tất cả ma chướng, yêu ma, quỷ quái chẳng dám gần quý vị. Do đây biết rằng: Người gặp phải ma quái đều là vì tâm chẳng thanh tịnh, có tham, sân, si, mạn. Tâm chẳng thanh tịnh bèn cảm ứng ma, tâm thanh tịnh ma tự nhiên chạy mất. Tỷ như niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát, niệm kinh điển, bái sám hữu hiệu, tất cả hết thảy kinh pháp đuổi ma đều nhằm giúp quý vị khôi phục cái tâm thanh tịnh, chẳng khôi phục được cái tâm thanh tịnh thì chẳng đuổi ma được. Người tin được bèn có phước, người không tin bèn đánh mất lợi ích thù thắng của việc tu học hạnh nguyện Phổ Hiền.

 

Chánh kinh:

Thị cố nhược nhân tụng thử nguyện giả, hành ư thế gian vô hữu chướng ngại, như không trung nguyệt, xuất ư vân ế. Chư Phật, Bồ Tát chi sở xưng tán, nhất thiết nhân thiên giai ưng lễ kính, nhất thiết chúng sanh tất ưng cúng dường. Thử thiện nam tử, thiện đắc nhân thân, viên mãn Phổ Hiền sở hữu công đức, bất cửu đương như Phổ Hiền Bồ Tát, tốc đắc thành tựu vi diệu sắc thân, cụ tam thập nhị đại trượng phu tướng. Nhược sanh nhân thiên, sở tại chi xứ, thường cư thắng tộc, tất năng phá hoại nhất thiết ác thú, tất năng viễn ly nhất thiết ác hữu, tất năng chế phục nhất thiết ngoại đạo, tất năng giải thoát nhất thiết phiền não, như sư tử vương tồi phục quần thú, kham thọ nhất thiết chúng sanh cúng dường.

(Vì thế, nếu ai tụng nguyện này đi trong thế gian chẳng bị chướng ngại, như vầng trăng trên không ra khỏi mây phủ, được chư Phật, Bồ Tát khen ngợi, hết thảy trời người đều nên lễ kính, hết thảy chúng sanh thảy nên cúng dường. Thiện nam tử ấy khéo được thân người, viên mãn tất cả công đức của Phổ Hiền, chẳng bao lâu sẽ như Phổ Hiền Bồ Tát, mau được thành tựu sắc thân vi diệu, đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu. Nếu sanh trong trời người, ở bất cứ đâu, thường sanh trong dòng họ cao quý, thảy có thể phá hoại hết thảy đường ác, đều có thể xa lìa hết thảy bạn ác, đều có thể chế phục hết thảy ngoại đạo, đều có thể giải thoát hết thảy phiền não, như sư tử chúa lấn áp muôn thú, đáng nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh)

 

Toàn văn Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm gồm bốn mươi quyển, mười đại nguyện vương thuộc cuốn cuối cùng, chỉ chiếm 1/40 của phẩm này. Hoằng Nhất đại sư lấy Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm làm khóa lễ sáng tối. Nếu ai có thể đọc tụng mười đại nguyện vương đây, tu hành theo đúng phương pháp trong bộ kinh này, thì trong thế gian này, người đó làm bất cứ việc gì chẳng bị chướng ngại; bởi lẽ trí huệ, phước đức viên mãn của người ấy thường lộ rõ trong sanh hoạt thường nhật. Đã thế, người ấy “được hết thảy chư Phật, Bồ Tát khen ngợi, hết thảy trời người đều nên lễ kính”. Phật, Bồ Tát xưng dương khen ngợi quý vị, trời người tất nhiên cũng tôn kính người có đạo đức, học vấn. Đối với quý vị, họ tỏ ra lễ độ bởi quý vị là một đệ tử Phật tu học hạnh nguyện Phổ Hiền.

Không những thế, trong lục đạo, quý vị “thường sanh trong dòng họ cao quý”. Những chỗ quý vị sanh sống qua lại nhất định đều thuộc chủng tộc thù thắng, “có thể phá hoại hết thảy đường ác, xa lìa hết thảy bạn ác, chế phục hết thảy ngoại đạo, giải thoát hết thảy phiền não, đáng nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh”. Lợi ích thật thù thắng! Tâm quý vị, sự tu trì của quý vị đều thuộc Bồ Đề chánh đạo, tự nhiên phá được hết thảy đường ác, xa lìa hết thảy bạn ác, bởi chí thú của họ khác với quý vị, nhất định chẳng thể cùng quý vị qua lại, nên chẳng bị họ gây chướng ngại. Quý vị có đạo đức, học vấn, biện tài, nhất định sẽ khuất phục được hết thảy ngoại đạo, đủ sức giải thoát hết thảy phiền não.

Bởi vậy, vị Bồ Tát như thế sống trong thế gian có thể tiếp nhận hết thảy chúng sanh cúng dường, bởi lẽ Ngài là phước điền của hết thảy chúng sanh. Chúng sanh chẳng cúng dường, Ngài bèn chẳng trụ thế, Ngài qua xứ khác, sanh tử tự tại. Không gian sanh hoạt của Ngài chẳng giống với chúng ta. Không gian sanh hoạt của chúng ta rất nhỏ, chỉ là một quả địa cầu mà thôi, không cách nào ra ngoài địa cầu được. Không gian hoạt động của chư Phật, Bồ Tát là tột cùng hư không, trọn pháp giới, không cách gì tưởng tượng được.

Gặp hạng người như vậy, nếu ta chẳng cúng dường, cung kính, khéo học theo, họ sẽ đi mất, chẳng ở lại chốn này. Cúng dường là cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy, nhất định phải tiếp nhận sự răn dạy, chỉ dẫn của họ, đó là điều trọng yếu nhất. Nếu không tu hành đúng như lời dạy, dù có cúng dường vật chất nồng hậu, họ cũng chẳng chịu ở lại nơi đây, bởi họ chẳng mong cầu hưởng thụ. Chỉ có một lý do khiến họ ở lại nơi đây: Tại chỗ này có rất nhiều người thật sự học theo họ, nên họ nhất định phải ở lại đây.

 

Chánh kinh:

Hựu phục thị nhân, lâm mạng chung thời, tối hậu sát-na, nhất thiết chư căn tất giai tán hoại, nhất thiết thân thuộc tất giai xả ly, nhất thiết oai thế tất giai thoái thất, phụ tướng, đại thần, cung thành nội ngoại, tượng, mã, xa thặng, trân bảo, phục tạng, như thị nhất thiết vô phục tương tùy. Duy thử nguyện vương, bất tương xả ly, ư nhất thiết thời, dẫn đạo kỳ tiền, nhất sát-na trung, tức đắc vãng sanh Cực Lạc thế giới. Đáo dĩ, tức kiến A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát đẳng, thử chư Bồ Tát sắc tướng đoan nghiêm, công đức cụ túc, sở cộng vi nhiễu. Kỳ nhân tự kiến sanh liên hoa trung, mông Phật thọ ký.

Đắc thọ ký dĩ, kinh ư vô số bách thiên vạn ức na-do-tha kiếp, phổ ư thập phương bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, dĩ trí huệ lực, tùy chúng sanh tâm, nhi vi lợi ích. Bất cửu đương tọa Bồ Đề đạo tràng, hàng phục ma quân, thành Đẳng Chánh Giác, chuyển diệu pháp luân, năng linh Phật sát cực vi trần số thế giới chúng sanh, phát Bồ Đề tâm, tùy kỳ căn tánh giáo hóa thành thục, nãi chí tận ư vị lai kiếp hải, quảng năng lợi ích nhất thiết chúng sanh.

(Lại khi người ấy lâm chung, vào sát-na tối hậu, hết thảy các căn thảy đều tan hoại, hết thảy thân thuộc thảy đều bỏ lìa, hết thảy oai thế thảy đều lui mất, phụ tướng (5), đại thần, cung điện, thành quách trong ngoài, voi, ngựa, xe cộ, trân bảo, kho đụn, hết thảy những thứ như thế không gì theo mình nữa. Chỉ có mỗi nguyện vương này chẳng bỏ lìa, trong hết thảy thời nó thường dẫn đường đằng trước, trong một sát-na liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc. Đến nơi rồi, liền thấy A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát v.v… Các đại Bồ Tát ấy sắc tướng đoan nghiêm, công đức trọn đủ, cùng chung vây quanh. Người ấy tự thấy sanh trong hoa sen, được Phật thọ ký.

Được thọ ký rồi, trải qua vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp, khắp trong mười phương bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, dùng sức trí huệ, tùy tâm chúng sanh để làm lợi ích. Chẳng bao lâu sẽ ngồi nơi Bồ Đề Đạo Tràng (6), hàng phục ma quân, thành Đẳng Chánh Giác, chuyển pháp luân mầu nhiệm, có thể làm cho chúng sanh trong các thế giới nhiều như số cực vi trần trong một cõi Phật phát tâm Bồ Đề, tùy theo căn tánh mà giáo hóa thành thục, cho đến tột cùng biển vị lai kiếp, có thể rộng lợi ích hết thảy chúng sanh).

     

Phổ Hiền Bồ Tát lại dạy chúng ta một việc rất trọng yếu. Cổ đức chú giải kinh văn thường trích dẫn đoạn kinh này. Do đó biết đoạn kinh văn này rất trọng yếu. Đối với người niệm Phật cầu vãng sanh, nó lại càng trọng yếu hơn nữa. Sát-na tối hậu khi lâm chung (tức vào lúc hơi thở cuối cùng) là lúc quan trọng nhất của lúc sanh tử, thần thức ly khai thân thể (nói theo thế tục là “linh hồn lìa khỏi nhục thân”), nhục thân bị hủy hoại, hư nát. Điều này cho thấy thân thể vô cùng mỏng manh.

Người nhà, quyến thuộc ân ái sâu nặng cách mấy đến lúc này cũng chẳng thể không chia lìa, một phen xa nhau vĩnh viễn, đời sau chẳng gặp lại được nữa. Dẫu đời sau có gặp lại nhau, cả mình lẫn người đều đã thay đầu đổi mặt, có gặp cũng chẳng nhận ra. Bởi thế, duyên thế gian phải nhạt dần, chớ quá chấp trước; thế nhưng phải săn sóc hết thảy chúng sanh chu đáo, đấy là Bồ Tát hạnh, tâm địa thanh tịnh chẳng bị nhiễm.

Lúc còn sống, anh hùng, hảo hán, oai phong lẫm lẫm, chết đi, thứ gì cũng chẳng còn, chỉ vừa vùi xuống đất, hết thảy oai thế mất sạch. Tại thế gian làm đế vương, chết đi, đại thần cũng chẳng thể đi theo. Ở trong cung điện, phương tiện di chuyển là voi, ngựa, xe cộ, chẳng mang theo được thứ gì. Lúc còn sống thâu chứa bao nhiêu của cải quý báu, cũng chẳng mang theo được gì. Thân thể còn phải mục nát, huống hồ những thứ ngoài thân!

Thấy thấu suốt những sự tình đó, sẽ chẳng lưu luyến hết thảy pháp thế gian. Chẳng còn tham ái, tâm quý vị sẽ thanh tịnh rất nhiều. Tâm thanh tịnh bèn sanh trí huệ, bèn hiểu trong thế gian nên làm người như thế nào, nên làm những chuyện gì, tự nhiên giống như Phật, Bồ Tát: Trong thế gian này chẳng vì chính mình, mà vì chúng sanh. Sanh ra chẳng mang theo cái gì đến, chết đi chẳng mang được cái gì đi, chỉ trần trụi một thân, cho nên chẳng vì chính mình. Công đức chân thật chỉ là lợi ích chúng sanh.

“Chỉ có nguyện vương này chẳng hề bỏ lìa”: Có thể mang theo công đức chính mình đã tu hành, chẳng hề lìa bỏ. Bởi lẽ, công đức do chân tâm tu, chẳng phải do tình ý hư dối tu tập. Vì sao chẳng thể mang theo tình người thế gian được? Là vì tình ý hư dối, chẳng phải chân tâm. Từ Quyền Giáo Bồ Tát trở xuống thảy đều vận dụng tình ý hư dối, chẳng hề dụng tâm chân thật. Bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Nghiêm đều dùng chân tâm. Chân tâm vĩnh viễn chẳng biến đổi, vọng tâm biến đổi theo từng sát-na. Bất cứ thứ gì trong thế gian cũng chẳng mang theo được, bởi lẽ chúng do tình ý hư dối tạo ra.

Quý vị giúp đỡ hết thảy chúng sanh, thành tâm thành ý mà làm thì công đức, phước đức đều mang theo được. Tục ngữ có câu: “Vạn thứ đều bỏ sạch, chỉ mỗi nghiệp theo thân”. Mang theo thiện nghiệp vào ba đường lành (trời, người, A Tu La) hưởng quả báo, mang ác nghiệp vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) chịu quả báo. Bồ Tát thiện nghiệp lẫn ác nghiệp đều chẳng có, dẫu đoạn hết thảy ác nhưng chẳng chấp tướng đoạn ác; dẫu tu hết thảy thiện nhưng chẳng chấp tướng tu thiện, tam luân thể không. Ngày ngày làm lành, ngày ngày vì mọi người, nhưng trọn chẳng chấp tướng. Bởi thế, họ mang mười đại nguyện vương đã tu hành theo được.

Chẳng những mang theo mà còn trong “hết thảy thời”, nguyện vương vĩnh viễn theo họ, chẳng hề tách rời, dẫn đường cho họ “trong một sát-na, liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc”. Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Đến thế giới Cực Lạc, lập tức thấy A Di Đà Phật. Bởi thế, mười đại nguyện vương là pháp tối thượng thừa để Bồ Tát tu hành. Nói cách khác, nó là hạnh viên mãn của hết thảy Bồ Tát Lục Độ. Trong mười nguyện, nguyện nào cũng viên mãn, gồm trọn Lục Độ, là hạnh viên mãn của Bồ Tát. Đến Cực Lạc, đồng thời cũng thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát v.v… Những vị Bồ Tát ấy sắc tướng đoan nghiêm, công đức trọn đủ.

Người tu mười đại nguyện vương sanh về thế giới Cực Lạc, hoa lập tức nở, đó là vãng sanh bậc thượng. Nhân vì tu hạnh nguyện Phổ Hiền, tâm lượng giống như hư không pháp giới, mỗi một nguyện đều nói: “Hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự tu hành này của tôi chẳng có cùng tận”. Tâm lượng chúng ta quá nhỏ nên phải học Phổ Hiền hạnh để tâm lượng lớn ra. “Tâm trùm thái hư, lượng khắp các cõi nhiều như cát”, không một pháp nào chẳng gồm chứa. Tâm lượng to lớn như thế, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thì lẽ đương nhiên phải là Thượng Phẩm Vãng Sanh.

Bởi thế, sanh về đó, hoa sen hóa sanh, hoa nở thấy Phật, được Phật thọ ký. Sau khi được Phật thọ ký, ở Tây Phương Cực Lạc thế giới nỗ lực tinh tấn cầu học, đạo sư là A Di Đà Phật, giáo thọ là mười phương chư Phật Như Lai và các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền… Bạn đồng học là các thượng thiện nhân. Bởi thế, về đó cầu học mau chóng phi thường, chẳng lui sụt, một đời viên mãn thành tựu. Dù khi chưa tốt nghiệp, nghĩ muốn thả bè từ thì A Di Đà Phật dùng bổn nguyện lực công đức oai thần gia trì, quý vị bèn có thể nương theo ý nguyện trở về độ sanh mà chẳng bị lui sụt, chẳng đọa vào ác đạo. Đến mười phương thế giới độ chúng sanh, năng lực giống như Quán Âm Bồ Tát, tùy lòng chúng sanh, biết rõ nên dùng thân nào để độ bèn tự hiện thân ấy để độ. Nên dùng thân Phật để độ thì chính mình cũng có thể thị hiện tám tướng thành đạo giống như Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện thành Phật trong thế gian này. Chỉ cần sanh về thế giới Cực Lạc, được gặp gỡ Phật A Di Đà bèn có năng lực ấy. Năng lực ấy là do Phật gia trì, bởi chúng ta thật sự là học trò của Phật A Di Đà, hết thảy chư Phật, Bồ Tát đều giúp đỡ quý vị. Long thiên hộ pháp thần cũng đều hộ trì quý vị.

Nếu chẳng nghiêm túc nỗ lực tu học thì chẳng thể buông xuống vạn duyên, đối với pháp môn này vẫn nửa tin nửa ngờ, chẳng hoàn toàn tin tưởng. Nếu hiểu rõ chân tướng sự thật, nghi tình sẽ đoạn, tín tâm kiến lập. Pháp môn này chẳng khó tu. Đến lúc ấy mới là chân chánh báo ân Phật, báo ân cha mẹ, báo ân chúng sanh vì quý vị có năng lực lợi ích hết thảy chúng sanh.

 

3. Khuyến chúc thọ trì

Chánh kinh:

      Thiện nam tử! Bỉ chư chúng sanh nhược văn, nhược tín thử đại nguyện vương, thọ trì, độc tụng, quảng vị nhân thuyết, sở hữu công đức trừ Phật Thế Tôn, dư vô tri giả. Thị cố nhữ đẳng văn thử nguyện vương, mạc sanh nghi niệm, ưng đương đế thọ. Thọ dĩ năng độc, độc dĩ năng tụng, tụng dĩ năng trì, nãi chí thư tả, quảng vị nhân thuyết. Thị chư nhân đẳng ư nhất niệm trung, sở hữu hạnh nguyện giai đắc thành tựu, sở hoạch phước tụ vô lượng vô biên; năng ư phiền não đại khổ hải trung, bạt tế chúng sanh, linh kỳ xuất ly, giai đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới.

(Này thiện nam tử! Các chúng sanh đó nếu nghe hoặc tin đại nguyện vương này, thọ trì, đọc tụng, rộng nói cho người, có được công đức trừ Phật Thế Tôn ra, không ai biết được! Vì thế các ông nghe nguyện vương này chớ sanh lòng ngờ, phải nên chân thật nhận lấy, nhận rồi nên đọc, đọc rồi nên tụng, tụng rồi nên trì, cho đến biên chép, rộng nói cho người. Những người ấy trong một niệm, tất cả hạnh nguyện đều được thành tựu, đạt được khối phước vô lượng vô biên, có thể ở trong biển khổ phiền não lớn cứu vớt chúng sanh khiến họ được xuất ly, đều được vãng sanh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà).

 

Đoạn kinh này rất trọng yếu, cổ vũ chúng ta rất lớn. Ở đây, Bồ Tát nói: Nếu chúng ta nghe được pháp môn này, nghe xong bèn có thể tin tưởng, có thể tiếp nhận, thọ trì, đọc tụng, rộng nói cho người khác, thì đạt được công đức lớn lao không gì sánh ví được, chỉ mình đức Phật biết nổi thôi. Thọ trì: Thọ là tiếp nhận, Trì là làm theo. Như với “lễ kính chư Phật” bèn làm theo, dù chẳng thể thực hiện viên mãn, vẫn nỗ lực làm, nỗ lực học theo. Đối với người khác, ta đều dùng cái tâm cung kính, tâm chân thành; đối với sự, bất luận chuyện lớn, việc nhỏ, ta đều nỗ lực chịu trách nhiệm thực hiện, hoàn thành sự việc ấy thật tốt đẹp. Đối với vật, lau chùi bàn ghế sạch sẽ, sắp xếp ngay ngắn, đó là cung kính đối với vật. Như thế mới là chân chánh thọ trì Phổ Hiền hạnh.

“Xưng tán Như Lai”: Ai có chuyện gì lợi ích cho chúng sanh, ta phải khen ngợi, ai làm chuyện gì không tốt, ta đừng nói, [ấy là] “ẩn điều ác, nêu điều lành”. Người xấu làm chuyện xấu có tâm hổ thẹn, cảm thấy khó chịu; họ làm chút việc tốt nào, mọi người khen ngợi; làm việc xấu, mọi người tha thứ, đều không nhắc đến, trong tâm họ bèn hổ thẹn; lâu ngày chầy tháng sẽ sửa đổi lỗi lầm, biến thành người tốt. Ác nhân tự có ác báo, chẳng phiền chúng ta phải tuyên dương. Đoạn kinh này dạy chúng ta phải tin tưởng, thọ trì, đọc tụng, đó là tự tu, tự hành. Ngoài ra, lại còn phải tuyên truyền, rộng nói cho người khác, kinh điển phải lưu thông, ấn hành với số lượng lớn, in cho thật đẹp đẽ, gởi các nơi tặng cho người khác.

Khuyên người học Phật, đem tinh nghĩa, tinh thần, giáo huấn, lợi ích của Phật pháp tùy thời, tùy chỗ nói cho người khác nghe. Đối phương nghe cũng tốt, không nghe cũng được (tối thiểu là nghe lọt mấy câu vào A Lại Da Thức). Khi nhận điện thoại, cầm điện thoại lên, trước hết niệm Nam Mô A Di Đà Phật, khiến A Di Đà Phật rót vào tai đối phương, đó là độ chúng sanh, rộng vì người khác nói. Khuyên người niệm Phật ít nói chuyện nhảm nhí. Công đức tự hành hóa tha ngoại trừ chư Phật Như Lai ra, không ai hiểu nổi công đức quý vị lớn lao đến mức độ nào đâu!

“Vì thế các ông nghe nguyện vương này, chớ sanh lòng ngờ”: Chữ “các ông” chỉ mọi người chúng ta. Nghe phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện này, chẳng phải ngẫu nhiên, mà là trong đời quá khứ, vô lượng kiếp trước, quý vị đã gieo thiện căn sâu dầy, nhân duyên đại phước đức, ngày nay trọn đủ, mới có cơ hội được nghe kinh này. Phước báo chẳng đủ, chẳng được nghe; bởi thế chớ tự coi thường mình. Nghe xong, phải tin sâu chẳng nghi. Biết Phổ Hiền Bồ Tát, Tỳ Lô Giá Na Như Lai giảng trong kinh điển, câu nào cũng là lời chân thật. Chúng ta “phải nên đế thọ” (chân thật nhận lấy). “Đế” là tường tận, cẩn thận, kỹ càng, thảy đều minh bạch, rõ ràng, hiểu rõ, tiếp nhận hoàn toàn.

Sau khi tiếp nhận, bước công phu thứ nhất là đọc kinh, đọc rồi phải tụng thuộc, tụng thuộc rồi phải thực hiện. Đọc thuộc, nhớ kỹ rồi, trong sanh hoạt thường nhật, khởi tâm động niệm, hết thảy hành vi đều phải suy nghĩ. Chẳng hạn như, lau cái bàn nghĩ mình đang lễ kính chư Phật. Cái bàn là Phật, chúng ta phải lau cho thật sạch sẽ, rất cung kính nghiêm túc làm công việc ấy. Bất luận làm việc gì đều phải thành tâm, thành ý. Có tâm cung kính, có ý chân thành, việc gì mà chẳng làm tốt được? Chẳng thể tụng thuộc thì tu hành chẳng có tiêu chuẩn, chẳng có nguyên tắc; bởi thế, nhất định phải tụng thuộc kinh điển, sau đó đem những điều ấy thực hiện.

Làm được rồi, chính mình sẽ được thật sự thọ dụng lợi ích chân thật. Lợi ích ấy là phiền não nhẹ đi, trí huệ tăng trưởng, một ngày từ sáng đến tối khoái lạc khôn sánh. Tự mình có thể cảm nhận mình là người sung sướng hạnh phúc mỹ mãn bậc nhất trên thế giới, pháp hỷ sung mãn. Trong thế giới này, đã đầy đủ chân thiện mỹ huệ thì sanh mạng, cuộc sống của quý vị thật sự sung mãn. Chỉ những ai thật sự có công phu tu trì trong Phật pháp mới được sung mãn. “Cho đến biên chép, rộng nói cho người” là khuyên người. Phải lưu thông Phật pháp, tuyên truyền Phật pháp, đó là trách nhiệm của người đệ tử Phật. Chiếu theo pháp môn này mà tự hành, hóa tha, tận tâm tận lực thực hiện. Phải tự mình tận tâm tận lực tu hành và cũng phải tận tâm tận lực lưu thông, tuyên truyền.

Người như vậy, trong một niệm, tất cả hạnh nguyện đều được thành tựu. Đó là sự thật, kinh Đại Thừa từng nói đến: “Một tức là hết thảy, hết thảy tức là một”. Bởi tâm lượng quý vị viên mãn, bất cứ một hạnh nào cũng đều từ chân tâm, viên mãn tâm mà phát khởi. Một niệm phát khởi từ cái tâm viên mãn, há lẽ chẳng có đạo lý viên mãn? Há lẽ chẳng có đạo lý trọn khắp? Đấy là cảnh giới Hoa Nghiêm, rất khó lãnh hội, rất khó hiểu, là sự thật chân chánh. Phước báo quý vị đạt được vô lượng vô biên. Cầu vô biên phước thù thắng từ nơi đây.

Nếu dùng các thứ vàng bạc, của cải để bố thí cầu phước, sẽ cầu được phước báo nhỏ nhoi, chẳng phải là tu đại phước rốt ráo viên mãn. Đại phước rốt ráo viên mãn phải nhờ vào Phổ Hiền hạnh mới đạt được, mới có thể viên mãn thành tựu. Đối với hết thảy chúng sanh trong biển khổ phiền não, quý vị cũng có năng lực giống như chư Phật, Bồ Tát, giúp đỡ họ xử lý, dẫn dắt họ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thì Phổ Hiền hạnh nguyện mới đạt đến viên mãn.

 

II. Trùng Tụng

      Chánh kinh:
      Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát dục trùng tuyên thử nghĩa, phổ quán thập phương, nhi thuyết kệ ngôn:

(Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát muốn trùng tuyên nghĩa này, nhìn khắp mười phương, bèn nói kệ (7) rằng)

 

Kệ tụng giống như thi ca của Trung Quốc. Ở đây là loại kệ tụng bảy chữ, mỗi câu có bảy chữ, cứ bốn câu là một kệ. Tổng cộng có sáu mươi hai bài. Phần đầu là Trùng Tụng đem hết thảy mười đại nguyện vương nhắc lại một lượt. Trong nhà Phật, thể lệ này rất nhiều, có hai dụng ý:

1) Phật giảng kinh, thính chúng tự do tham gia, có kẻ đến trước, người đến sau. Người đến sau cùng chưa nghe được những điều đã giảng mấy hôm trước, Phật rất từ bi, dùng kệ tụng để đơn giản nhắc lại những điều trọng yếu một lần nữa.

2) Kinh văn phải tụng thuộc, sợ kẻ độn căn khó thuộc nổi phần Trường Hàng, kệ tụng có thể dùng để xướng tụng, dễ ghi nhớ.

 

1. Tụng mười đại nguyện vương

1.1. Kệ tụng lễ kính chư Phật

Chánh kinh:

Sở hữu thập phương thế giới trung,

Tam thế nhất thiết Nhân Sư Tử,

Ngã dĩ thanh tịnh thân ngữ ý,

Nhất thiết biến lễ tận vô dư,

Phổ Hiền hạnh nguyện oai thần lực,

Phổ hiện nhất thiết Như Lai tiền,

Nhất thân phục hiện sát trần thân,

Nhất nhất biến lễ sát trần Phật.

(Trong tất cả mười phương thế giới,

Ba đời hết thảy Nhân Sư Tử,

Tôi dùng thân - ngữ - ý thanh tịnh,

Lễ khắp hết thảy chẳng còn sót,

Sức oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền,

Hiện trước khắp hết thảy Như Lai,

Mỗi thân lại hiện sát trần (8) thân,

Mỗi mỗi lễ khắp sát trần Phật)

 

Bài tụng thứ nhất là “lễ kính chư Phật”. “Mười phương thế giới” là vô lượng vô biên các cõi Phật. Chúng ta lễ kính ai? Lễ kính “ba đời hết thảy Nhân Sư Tử”. Ba đời: đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai. Nhân Sư Tử là Phật. Trong kinh Phật thường dùng chữ “nhân trung sư tử” (sư tử trong loài người) để ví đức Phật. Mười phương tam thế hết thảy Phật đều là đối tượng để chúng ta lễ kính. Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn sẵn là Phật”. Phàm những hiện tượng do các duyên hòa hợp mà sanh khởi đều gọi là “chúng sanh”. Hữu tình chúng sanh do các duyên Tứ Đại, Ngũ Uẩn hòa hợp; vô tình chúng sanh (thực vật, khoáng vật) cũng do các duyên hòa hợp, bởi thế cũng là chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Tình và vô tình cùng viên mãn Chủng Trí”.

Vì sao nói “chúng sanh vốn đã là Phật”? Điều này thuộc về mối quan hệ giữa Tánh và Tướng. Phàm mọi Tướng đều do Tánh biến hiện. Phật là Tâm. Hết thảy hiện tượng chỉ do Tâm hiện, do Thức biến. Tâm chính là Phật, Phật chính là Tâm. Hữu tình chúng sanh có Phật tánh, vô tình chúng sanh có pháp tánh. Pháp tánh và Phật tánh cùng một tánh, chỉ là danh từ bất đồng.

Chúng ta đối với người, đối với sự, đối với vật đều phải thường tu cung kính, phải hoàn toàn cung kính giống hệt như cung kính đức Phật. Ở nhà phải hiếu kính cha mẹ, ở trường phải lễ kính sư trưởng, dần dần mở rộng lòng lễ kính đến thân thích, quyến thuộc, cho đến hết thảy chúng sanh. Chẳng những mở rộng sự lễ kính đến hết thảy chúng sanh hữu tình mà còn phải mở rộng đến hết thảy chúng sanh vô tình. Trong con mắt người tu hành, giá nến, lư hương, bàn ghế, mọi thứ đều là Phật cả, đều phải cung kính. Bàn ghế lau chùi sạch sẽ, sắp xếp chỉnh tề, là tỏ lòng cung kính đối với chúng nó. Sách đặt trên bàn phải thứ tự chỉnh tề; nếu quăng vứt lung tung là bất kính vậy. Phật pháp kiến lập trên cơ sở tâm cung kính, phải cung kính với hết thảy, bình đẳng cung kính, thanh tịnh cung kính. Dầu cung kính đối với hết thảy, nhưng tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần.

“Tôi dùng thân ngữ ý thanh tịnh” để biểu đạt lòng cung kính. Ba nghiệp thân - ngữ - ý thanh tịnh là cung kính chân chánh.

“Lễ khắp hết thảy chẳng còn sót”: đối với tam thế chư Phật, quý vị lễ một vị tức là lễ toàn bộ hết thảy. Vì sao vậy? Bởi tâm thanh tịnh chẳng có giới hạn. Tâm thanh tịnh là chân tâm, chân tâm tột cùng hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng có giới hạn. Bởi thế lễ một đức Phật là lễ hết thảy Phật, cung kính một đức Phật là cung kính hết thảy Phật. Ba nghiệp thân - ngữ - ý thanh tịnh, niệm niệm đều là lễ kính, chẳng phải là lễ Phật một cách hình thức.

Lễ Phật hình thức là mới học, đặc biệt là kẻ nghiệp chướng nặng nề, một ngày lễ ba ngàn lạy để tu thân - ngữ - ý thanh tịnh. Lễ Phật cũng là sám hối, để sám trừ tội nghiệp bất kính đối với hết thảy Phật, Bồ Tát và chúng sanh trong quá khứ. Lúc lễ Phật, tâm phải thanh tịnh, tâm phải không, chớ nên ôm đồm lắm nỗi, tâm phải một niệm chẳng sanh (“bổn lai vô nhất vật”), thân phải chiếu theo nghi thức mà làm. Lạy Phật là vận động, cũng là một phương pháp dưỡng sanh tốt nhất.

Trong sách Ảnh Trần Hồi Ức Lục có chép mẫu chuyện sau: Năm Dân Quốc thứ nhất (1911), thầy Hương Đăng chùa A Dục Vương là người rất chất phác. Thầy Hương Đăng trông nom đèn đuốc, thắp hương. Mùa Hạ, khí trời nóng bức, người khác nói đùa:

- Thầy Hương Đăng! Người ta phơi sách, phơi y phục, thầy cũng nên đem nến ra phơi đi, nếu không chẳng giữ được lâu đâu!

Thầy đem nến ra phơi thật, nến chảy tan hết. Lão hòa thượng dặn thầy một ngày lễ Phật ba ngàn lạy để tu tâm thanh tịnh. Thầy lễ ba năm bèn ngộ.

“Sức oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền”: Chỉ cần chiếu theo phương pháp lý luận trong kinh này mà tu hành, quý vị sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát, là Phổ Hiền Bồ Tát tối sơ phát tâm. Trong thế giới Hoa Nghiêm có vị Đẳng Giác Phổ Hiền Bồ Tát, nhưng vị Phổ Hiền ấy cũng đã ở Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quý vị tu theo pháp môn này, tương ứng với Ngài, trong vô hình thần lực của Ngài sẽ gia trì quý vị, đạt được cảm ứng đạo giao. Sức lực ấy chẳng thể nghĩ bàn, là chỗ dựa cho chúng ta tu hành.

“Hiện trước khắp hết thảy Như Lai”: Mười phương ba đời vô lượng vô biên thế giới, vô lượng vô biên chư Phật, trước mỗi đức Phật đều có thân tướng chúng ta hiện diện lễ Phật.

Mỗi thân lại hiện sát trần thân, mỗi mỗi lễ khắp sát trần Phật”: Mỗi một thân đều lễ vô lượng vô biên đức Phật, vô lượng vô biên thân, mỗi thân lại lễ vô lượng vô biên Phật. Đấy toàn là cảnh giới Hoa Nghiêm, trùng trùng vô tận, tuyệt đối chẳng phải là thần thoại, mà đều là sự thật. Nguyên lý là tâm hiện, thức biến, công năng của tâm thức chẳng thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên, bởi thế có thể hiện các tướng như vậy. Hiểu theo một tầng ý nghĩa sâu rộng hơn thì do tâm thanh tịnh, chúng ta sẽ cùng thế giới này, mười phương ba đời hữu tình, vô tình, thế gian, xuất thế gian hòa nhập thành một thể.

Trong mười đại nguyện vương, nguyện thứ nhất là căn bản. Không có lễ kính sẽ chẳng có xưng tán. Chẳng có tâm cung kính, người xưng tán chỉ là miệng nói một đàng, tâm đi một nẻo. Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm chỉ là học lễ kính đó thôi! Chỉ cần thực hiện được lễ kính thì chín điều sau thảy đều viên mãn. Một lời mình nói ra nhất định là khen ngợi, đãi người tiếp vật nhất định là cúng dường. Bởi thế, chúng ta học Phật là học lễ kính. Lễ kính là tánh đức, là cái chúng ta vốn sẵn có. Hiện tại, ta mê hoặc điên đảo, khởi lòng kiêu căng ngã mạn, đánh mất tánh đức. Học Phật chẳng qua là khôi phục tánh đức mà thôi.

 

1.2. Kệ tụng xưng tán Như Lai

Chánh kinh:

Ư nhất trần trung trần số Phật,

Các xử Bồ Tát chúng hội trung,

Vô tận pháp giới trần diệc nhiên,

Thâm tín chư Phật giai sung mãn,

Các dĩ nhất thiết âm thanh hải,

Phổ xuất vô tận diệu ngôn từ,

Tận ư vị lai nhất thiết kiếp,

Tán Phật thậm thâm công đức hải.

(Nơi trần số Phật trong một trần,

Đều ở giữa chúng hội Bồ Tát,

Pháp giới vô tận trần cũng thế,

Tin sâu chư Phật thảy sung mãn,

Đều dùng hết thảy biển âm thanh,

Thốt trọn vô tận lời nói hay,

Tột cùng hết thảy kiếp vị lai,

Khen biển công đức Phật sâu thẳm)

 

Bài tụng thứ hai xưng tán Như Lai. Bài kệ thứ nhất nói lên đối tượng để xưng tán. Đối tượng ấy rộng lớn, giống như phần trên đã nói chẳng khác gì, ngôn từ bất đồng cho thấy văn chương bóng bảy.

“Ư nhất trần trung trần số Phật”: Trần đây là vi trần. Vi trần được nói trong kinh Phật, mắt thịt không thấy được; kinh Phật dùng rất nhiều ví dụ để giảng chữ “trần”. Trước hết là “ngưu mao trần”, lông bò khá thô, trên đầu sợi lông có một hạt bụi có thể dính vào đó mà không bị rớt mất [thì hạt bụi đó gọi là “ngưu mao trần”]. Chia hạt bụi đó thành bảy phần, mỗi một phần là “dương mao trần”, lông dê so ra nhuyễn hơn lông bò rất nhiều. Lại chia dương mao trần thành bảy phần, mỗi một phần là “thố mao trần” (bụi trên đầu sợi lông con thỏ). Thố mao trần lại chia thành bảy phần, thì mỗi một phần gọi là “thủy trần”, có thể xuyên qua nước không trở ngại gì. Nước có mật độ, nhưng giữa các phân tử nước vẫn có khoảng trống, hạt thủy trần có thể trôi qua những khoảng trống ấy. Lại chia thủy trần thành bảy phần, mỗi một phần là “kim trần”. Mật độ (density) của kim loại rất lớn, nhìn dưới kính hiển vi vẫn có khoảng trống, kim trần có thể vượt qua những khoảng trống ấy không bị chướng ngại. Kim trần lại chia thành bảy phần thì mỗi một phần gọi là “vi trần”. Thiên nhãn của A La Hán mới thấy được vi trần. Vi trần chưa phải là nhỏ nhất, lại chia thành bảy phần nữa thì gọi là “sắc tụ vi”; lại chia thành bảy phần nữa thì gọi là “cực vi vi”, không thể chia nhỏ hơn được nữa. Phật nhãn thấy được cực vi vi.

Trần số: đem tam thiên đại thiên thế giới (Ngân Hà hệ) nghiền thành vi trần, số đến vô lượng vô biên, trong mỗi một trần lại có vi trần số chư Phật.

Đều ở giữa chúng hội Bồ Tát”: Mỗi một đức Phật lại có hải hội Bồ Tát vây quanh, Bồ Tát rất nhiều.

“Pháp giới vô tận trần cũng thế”: Vô tận pháp giới, trong mỗi một vi trần đều có số lượng các thế giới như thế, đấy là cảnh giới đích thân Phật chứng nhập. Cảnh giới ấy chẳng thể nghĩ bàn, còn gọi là Nhất Chân Pháp Giới, tức là Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ của A Di Đà Phật.

“Tin sâu chư Phật thảy sung mãn”: Chẳng phải là cảnh giới chúng ta, dựa vào đâu để tin chẳng nghi ngờ đây? Căn cứ vào nhân cách của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật chẳng nói dối. Cảnh giới đúng thật như thế, kinh Kim Cang gọi cảnh giới ấy là “chư pháp Thật Tướng”, chỉ có Phật và các đại Bồ Tát mới chứng được.

“Đều dùng hết thảy biển âm thanh, thốt trọn vô tận lời nói hay”: Tán thán đương nhiên phải sử dụng ngôn từ, dùng âm thanh. Chúng ta chỉ nghĩ dùng âm thanh để ca xướng, dùng ngôn từ khen ngợi Phật; tướng nói như thế thật ra rất thô, có vậy hàng sơ học mới có thể lãnh hội được. Nếu nói sâu hơn, chúng ta không cách chi hiểu được.

Nói đúng ra, mọi âm thanh trong thế giới đều là khen Phật, hết thảy ngôn từ không chi chẳng diệu, kể cả tiếng người chửi nhau, cãi cọ cũng thế, chúng ta không cách gì hiểu được. Có tâm đắc phẩm Quán Thế Âm Nhĩ Căn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm mới hòng lãnh hội được! Hiện tại, chúng ta nghe có âm thanh đẹp dạ, có âm thanh thô tháo đáng chán ghét là vì chúng ta dùng cái tâm phân biệt để nghe, dùng Ý Thức để nghe, chúng ta chỉ nghe Thanh Trần. Bồ Tát lìa tâm ý thức mà nghe, nên trong hết thảy biển âm thanh, hết thảy biển ngôn từ, Ngài chẳng có tâm phân biệt, chẳng có tâm chấp trước, chẳng có tâm vọng tưởng, hoàn toàn dùng tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh nơi Nhĩ Căn gọi là Tánh Nghe. Cái được nghe bởi Tánh Nghe là Thanh Tánh, chẳng phải là Thanh Trần. Đó gọi là chân chánh tán thán đấy!

Bởi vậy, chửi người, cãi cọ cũng là tán thán, điều này kỳ diệu chẳng thể diễn tả nổi, chúng ta phải tu điều này. Tu xưng tán phải tu từ đây thì chúng ta mới có thể nhập cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không, suốt ngày từ sáng đến tối ca xướng, tán thán Phật, Bồ Tát, nhưng Phật, Bồ Tát vẫn là Phật, Bồ Tát, phàm phu vẫn là phàm phu. Tán thán rồi quý vị cũng biến thành Phật, Bồ Tát, như thế mới là đúng! Bởi thế, Ngài đối với thanh âm chẳng hề chọn lựa, chẳng có phân biệt, đối với ngôn từ cũng chẳng có chọn lựa. Vì thế mới là diệu ngôn, hễ có chọn lựa thì chẳng còn diệu nữa! Hết thảy âm thanh ngôn từ đều lưu xuất từ pháp tánh, lại quy vào pháp tánh. Người bình phàm vừa nghe liền khai ngộ kiến tánh là vì họ dùng cái Tánh Nghe để nghe Thanh Tánh, dùng Tánh Thấy để thấy Sắc Tánh.

Dù nói đến sáu tánh nơi sáu căn, cũng như sáu tánh nơi sáu trần; thật ra, tánh chỉ là một, nhất định chẳng có hai tánh thì mới gọi là tu cái nguyện “xưng tán”. Xưng tán là đào luyện tâm thanh tịnh từ nơi âm thanh, lễ kính là luyện tâm thanh tịnh từ nơi hết thảy người, vật, sự tướng. Lễ kính là thanh tịnh, tán thán cũng là thanh tịnh. Mỗi một đại nguyện điều nào cũng nói đến thanh tịnh, tu tâm thanh tịnh từ những điều đó nên pháp môn này gọi là Đại Bất Tư Nghị Pháp Môn. Chỗ nào cũng dạy chúng ta minh tâm kiến tánh, chỗ nào cũng dạy chúng ta nhất tâm bất loạn.

“Tột cùng hết thảy kiếp vị lai”: Thời gian tu hành chẳng gián đoạn, trong quá trình tu hành chẳng có kỳ hạn, sau khi tu hành viên mãn mới có kỳ hạn. Vì thế, Phật, Bồ Tát mới chứng viên mãn ba thứ Bất Thoái. Có kỳ hạn là có lúc kết thúc, pháp môn này vô thỉ cũng vô chung. Chư vị nghĩ kỹ xem: Tu tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh có đầu có cuối chăng? Tâm thanh tịnh chẳng có đầu lẫn cuối!

Duy Thức nói: “Phương phần, thời phần, đều là hành pháp bất tương ưng”. Phương phần là không gian, Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới. Thời phần là thời gian, quá khứ, hiện tại, vị lai. Có những sự tình đó, dẫu là có, nhưng chỉ là khái niệm trừu tượng, chẳng phải là sự thật cụ thể, nhưng đối với khái niệm trừu tượng chúng ta thường lầm lẫn, coi chúng là thật, tựa hồ thật sự có những sự tình đó; kỳ thật, chúng nào có. Phá được cái ải đó, tức là phá được cả không gian lẫn thời gian, thì mới là giải thoát rốt ráo. Tâm thanh tịnh chẳng có mười phương, chẳng có ba đời, cho nên mới nói: “Tột cùng vị lai hết thảy kiếp”. Cách nói như vậy, đối với người sơ học thật không gì cổ vũ lớn hơn nữa, chúng ta phải hiểu rõ sự thật này, phải tinh tấn nỗ lực không ngừng, chẳng nên giải đãi, chẳng được thoái chuyển.

“Khen biển công đức Phật sâu thẳm”: công đức Phật vô lượng vô biên, tán thán chẳng thể cùng tận. Nói trên mặt Sự, lễ kính bao gồm hết thảy chúng sanh, chúng sanh đều có Phật tánh, hết thảy chúng sanh vốn là Phật. Bởi thế phải lễ kính hết, chẳng được phân biệt, chấp trước, phải dùng cái tâm thanh tịnh, bình đẳng để tu. Xưng tán thì phải coi là xứng tánh hay không xứng tánh, cũng phải xét là thiện hay ác. Chư vị phải biết thiện - ác là bình đẳng, chân - vọng, tà - chánh cũng là bình đẳng, chẳng có pháp nào không bình đẳng. Vì sao xưng tán phải phân biệt? Đối với Pháp Thân đại sĩ mà nói thì là bình đẳng, nhưng đối với phàm phu chúng ta bèn có sai biệt.

Trong phần Trường Hàng nói “xưng tán Như Lai”, nhưng phần kệ tụng nói “xưng tán Phật” chứ không xưng tán Như Lai. Ở đây là cảnh giới Bồ Tát, là bình đẳng, gọi là Nhất Chân Pháp Giới. Phần Trường Hàng có phân biệt là vì nói với chúng ta. Tâm chúng ta bất bình đẳng, có chân - vọng, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác; chúng ta chẳng tán thán  ác pháp, tán thán thiện pháp. Trong Kệ Tụng là pháp bình đẳng, phần Trường Hàng là pháp sai biệt, là nhân quả sai biệt. Phật thuyết pháp thật xảo diệu thay!

 

1.3. Kệ Tụng Quảng Tu Cúng Dường

Chánh kinh:

Dĩ chư tối thắng diệu hoa man,

Kỹ nhạc, đồ hương, cập tán cái,

Như thị tối thắng trang nghiêm cụ,

Ngã dĩ cúng dường chư Như Lai,

Tối thắng y phục, tối thắng hương,

Mạt hương, thiêu hương, dữ đăng, chúc,

Nhất nhất giai như Diệu Cao tụ,

Ngã tất cúng dường chư Như Lai,

Ngã dĩ quảng đại thắng giải tâm,

Thâm tín nhất thiết tam thế Phật,

Tất dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực,

Phổ biến cúng dường chư Như Lai.

(Dùng các tràng hoa đẹp tối thắng,

Âm nhạc, hương bôi, và tàn, lọng,

Đồ trang nghiêm tối thắng như thế,

Tôi dùng cúng dường các Như Lai.

Y phục tối thắng, hương tối thắng,

Hương bột, hương đốt, và đèn đuốc,

Mỗi thứ chất như núi Tu Di,

Tôi đều cúng dường các Như Lai.

Tôi dùng tâm thắng giải rộng lớn,

Tin sâu hết thảy ba đời Phật,

Đều dùng sức hạnh nguyện Phổ Hiền,

Cúng dường trọn khắp các Như Lai)

 

Bài Tụng thứ ba là Quảng Tu Cúng Dường. Cúng dường là bố thí, bố thí là dạy chúng ta tu Xả, dạy chúng ta buông xuống. Nhất định phải tu cúng dường, buông hết thảy thân tâm thế giới xuống. Cúng dường chư Phật, cúng dường chúng sanh, cúng dường pháp giới, hết thảy đều cúng dường. Đem trí huệ, sức lực, của cải, kỹ năng của mình cống hiến cho xã hội, vì hết thảy chúng sanh phục vụ, chẳng cần báo đáp. Công đức của cúng dường bố thí là đoạn trừ phiền não; tâm keo tiếc tham ái, tâm ưu lự, tâm vướng mắc đều chẳng còn nữa, rất tự tại! Hiện thời quý vị có tiền nhưng chẳng tự tại, có địa vị nhưng chẳng tự tại, là do trong tâm quý vị còn vướng mắc, ưu lự, phiền não. Đức Phật dạy chúng ta bố thí tức là dạy cho chúng ta cách đạt đại tự tại.

Đại tự tại là chân khoái lạc, chân hạnh phúc. Có lẽ có người sợ rằng hết thảy thân tâm thế giới đều buông bỏ hết, thì còn được cái gì nữa? Làm sao sống nữa đây? Đúng vậy! Đời người chẳng cần phải sống nữa, đời sống lục đạo chẳng cần trải qua nữa, mà là sống đời của Phật, của Bồ Tát. Sống đời của Phật, của Bồ Tát thì như người trong thế giới Cực Lạc nghĩ đến ăn món gì, vừa mới nghĩ thì thứ mình nghĩ tưởng đã hiện ra trước mắt, chẳng cần phải nấu nướng, muốn mặc y phục gì, chẳng cần phải may vá, trong tâm vừa tưởng, y phục liền khoác trên thân, đó là cuộc sống của Phật, Bồ Tát. Nghĩ muốn ở trong nhà cửa theo cách thức nào, mình đã ở trong nhà như thế rồi. Muốn nhà lớn thêm một chút, nhà liền lớn thêm một chút. Nghĩ muốn nhỏ đi chút, nó liền nhỏ lại. Không điều gì chẳng vừa ý người. Vì sao cuộc sống được tự tại như thế? Là vì họ chẳng có ưu lự, vướng mắc, phiền não. Tin tưởng nhân duyên quả báo, tu bố thí cúng dường, trong một đời này sẽ được phước báo vô lượng, có thể tu đến mức hữu cầu tất ứng, ngay cả thọ mạng còn có thể kéo dài, huống chi là bệnh khổ?

Hai bài kệ này nói về các thứ để cúng dường. “Tối thắng” nghĩa là tốt đẹp nhất. “Man” là tràng hoa. “Diệu hoa”: chẳng phải loại hoa tầm thường mà còn hàm chứa pháp nghĩa trong ấy, đấy là diệu. Tu hành giống như nở hoa, tương lai nhất định chứng quả. Trông thấy hoa bèn nghĩ ta phải tu hành. Hoa tượng trưng Lục Độ Vạn Hạnh; trong kinh này Hoa tượng trưng cho mười Ba La Mật, mười đại nguyện vương. Trông thấy hoa, phải nghĩ tu mười độ, hạnh nguyện Phổ Hiền. Diệu hoa nghĩa là từ nơi hoa ấy, quý vị bèn khởi giác quán.

“Kỹ nhạc” là âm nhạc ca vũ. Người Tiểu Thừa phiền não nặng nên pháp Tiểu Thừa cấm ngặt âm nhạc ca múa; pháp Đại Thừa xướng ca, nhảy múa cúng dường Phật. Tuy dùng kỹ nhạc cúng dường, tâm Phật, Bồ Tát quyết định thanh tịnh. Dùng tâm thanh tịnh để diễn tấu, để lắng nghe, không gì chẳng phải là minh tâm kiến tánh. “Đồ hương” (hương bôi): hương bôi trên thân, giống như nước hoa. “Tán cái” (tàn lọng): Tán để che mát, lọng để ngăn bụi. Tâm địa phải thanh lương, phải chẳng nhiễm mảy trần, tàn lọng thể hiện ý nghĩa đó.

Đồ trang nghiêm tối thắng như thế, tôi dùng cúng dường các Như Lai”: Các vật cúng dường như trên vừa nói, số lượng thật rất nhiều. Những vật cúng dường ấy, Phật chớ hề cần đến. Ở đây dùng chữ “Như Lai” chứ không dùng chữ “Phật”. Nói Phật là từ sự tướng, nói Như Lai là từ Tánh (bản tánh) mà nói. Tôi cúng dường Như Lai tức là cúng dường Chân Như Bản Tánh của chính mình.

Vì sao cúng dường tự tánh chính là cúng dường Như Lai? Kinh dạy: “Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”. Như Lai là Pháp Thân. Trong tâm thanh tịnh chẳng hề có cách ngăn, chẳng có chướng ngại, tột cùng pháp giới khắp hư không giới đều là một Như Lai, Chân Như Bản Tánh mà thôi! Xứng tánh lẽ đâu chẳng cúng trọn khắp?

“Y phục tối thắng, hương tối thắng”: Y phục che đậy, biểu thị Nhẫn Nhục Ba La Mật. Khi có lễ lạc thì mặc lễ phục, nên y phục cũng biểu thị cho lễ. “Tối thắng hương”: hương biểu thị tánh hương, hương biểu thị Giới Định. Hương có rất nhiều chủng loại, “mạt hương” là hương bột, “thiêu hương” là hương đốt. “Đèn đuốc” tượng trưng cho quang minh, trí huệ. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng, tinh tú, ánh sáng đèn đều biểu thị Bát Nhã quang minh của tự tánh. Trông thấy quang minh, cảnh tỉnh mình phải tu cho tâm địa quang minh, thanh tịnh, hợp nhất cùng ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, đèn đuốc.

“Mỗi thứ chất như núi Tu Di”: những thứ vật cúng dường chất cao như núi Diệu Cao (Tu Di sơn), tôi đều dùng để cúng dường Như Lai.

Chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa về mặt pháp của vật cúng dường. Quy nạp lại mà nói, “hạnh nguyện” là năng cúng dường, Pháp là sở cúng dường. Nhất định phải hiểu được ý nghĩa thù thắng nơi kinh thì sau đấy chính mình mới có thể tương ứng với cảnh giới được, mới hòng tu được công đức lợi ích chân thật nơi mười đại nguyện vương.

 

1.4. Kệ tụng sám hối nghiệp chướng

      Chánh kinh:

      Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,

Giai do vô thỉ tham sân si,

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,

Nhất thiết ngã kim giai sám hối.

(Tôi xưa trót tạo các ác nghiệp,

Đều do vô thỉ tham - sân - si,

Từ thân ngữ ý phát sanh ra,

Hết thảy tôi nay đều sám hối)

 

Bài tụng thứ tư: sám hối nghiệp chướng.

“Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp” (Tôi xưa trót tạo các ác nghiệp): “Tích” là quá khứ, từ vô thỉ kiếp đến nay đời đời kiếp kiếp tạo tác ác nghiệp vô lượng vô biên. Đời người khổ rất nhiều, chướng ngại nhiều, mười chuyện hết tám chín chuyện chẳng như ý; chuyện xứng tâm vừa ý rất khó gặp được. Những chướng ngại như vậy là hậu quả của những ác nghiệp đã tạo trong đời quá khứ, chỉ mình đức Phật mới sám trừ sạch được hết thảy nghiệp chướng. Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần sanh tướng vô minh chưa phá, đó là ác nghiệp của họ. Phàm phu chúng ta gây nghiệp chướng giết, trộm, dâm, dối, tham, sân, si, mạn rất nặng. Những nghiệp chướng ấy chướng tâm thanh tịnh của ta; nghiệp chướng nếu chẳng tiêu trừ, không cách chi tu học thành tựu.

Chưa ra khỏi tam giới thì thiện nghiệp vẫn là một thứ ác nghiệp; nhà Phật gọi là “tam thế oán”. Đời thứ nhất làm được rất nhiều việc tốt, đời thứ hai hưởng thiện quả, hưởng thọ đại phước báo trong trời người, trong xã hội có địa vị rất cao, làm quan to, trở thành giàu có lớn. Nhưng trong lúc hưởng thụ quả báo một đời, quên mất tu thiện, dẫu có tu thiện cũng chẳng làm được mấy. Vì thế, quả báo lành hưởng hết, đời thứ ba do thiện ít ác nhiều, ác nghiệp hiện tiền, vào trong tam đồ. Ví như: người giàu ngày ngày ăn cá, ăn thịt, cả mấy mươi năm tạo biết bao sát nghiệp? Người có thế lực lắm phen lầm lỡ, gây rất nhiều bất lợi cho người khác!

Thế nào là sự lành chân chánh? Ngoại trừ niệm Phật ra, những thứ khác đều chẳng phải là sự lành chân chánh. Sự lành chân chánh phải là ngay trong một đời này quyết định vượt thoát luân hồi lục đạo. Tu các pháp môn khác, không pháp nào có thể khiến quý vị ngay trong một đời vượt thoát tam giới, vẫn ở trong luân hồi, nên chúng chẳng phải là thiện nghiệp.

A Di Đà Phật đại từ đại bi, giúp cho bọn chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng chúng ta, mở cho chúng ta một con đường lớn để thành Phật. Chúng ta tin được, nguyện được, hành được thì thành tựu ngay trong một đời, đới nghiệp vãng sanh. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, nghiệp chướng từ vô thỉ kiếp đến nay của chúng ta tiêu trừ hết. Công đức niệm Phật rất lớn, tiêu trừ được hết thảy nghiệp.

“Đều do vô thỉ tham - sân - si”: Câu này nêu lên cái nhân tạo nghiệp. Ác nghiệp sanh khởi từ tham - sân - si. Người tu hành phải tu từ căn bản, phải trực tiếp đoạn tham - sân - si.

Chẳng những hết thảy pháp thế gian, ngũ dục, lục trần đều buông xuống, chẳng được tham, mà thậm chí hết thảy Phật pháp xuất thế gian, Bồ Đề, Niết Bàn cũng chẳng được tham. Chỉ cần có một ý niệm tham liền tạo ác nghiệp. Lục đạo chúng sanh tham ngũ dục, lục trần, hàng Nhị Thừa tham thiên chân Niết Bàn, tham Thiền Định, Đại Thừa Bồ Tát tham độ chúng sanh, đều là tâm tham. Chẳng tham mới có thể thành tựu. Sân là sân khuể, chướng ngại đạo nghiệp, chướng ngại tâm tánh, chướng ngại tâm thanh tịnh, nên phải đoạn trừ. Ngu si: chân - vọng, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác, lợi - hại chẳng thể phân biệt, cứ điên đảo thì gọi là ngu si. Chẳng hạn như: Chẳng thể phân biệt những loại giả danh Phật giáo chỉ mang hình thức Phật giáo bên ngoài là ngu si, chẳng biết chọn lựa pháp môn thích hợp hoàn cảnh tu học và trình độ của chính mình thì cũng là ngu si.

Tâm tham nặng đọa trong đường ngạ quỷ, tâm sân nặng đọa trong đường địa ngục, ngu si đọa trong đường súc sanh. Không tham, không sân, không si là ba thiện căn, thế gian, trời, người, hết thảy pháp lành do đấy mà sanh. Chúng ta muốn được phước báo trời người thì tối khẩn là phải chuyển tham - sân - si (ba độc phiền não) thành ba thiện căn, đấy mới là chân chánh sám hối. Sám hối là sửa lỗi đổi mới vậy!

“Từ thân - ngữ - ý phát sanh ra”: Câu này nói đến công cụ tạo nghiệp. Thân là thân thể tạo giết, trộm, dâm; ngữ là ngữ ngôn, tạo khẩu nghiệp: nói dối, nói đôi chiều, nói ác, thêu dệt; ý là ý niệm, khởi tham - sân - si, chẳng tin lời Phật, Bồ Tát giáo huấn, chẳng thể tu hành đúng như lời dạy. Thân ngữ ý nghiệp ngày ngày bất tri bất giác tạo nghiệp, đóng vai trò chủ chốt tạo nghiệp là tham - sân - si. Đa số người đời chẳng biết căn bệnh, lầm lỗi của chính mình, nhưng thấy rõ lỗi lầm, tật xấu của người khác. Biết lỗi lầm của chính mình bèn giác ngộ. Sau khi giác ngộ, liền có thể sửa đổi tật xấu, tập khí của chính mình. Đó là tu hành, là chân chánh sám hối.

“Hết thảy tôi nay đều sám hối”: Sám hối là đổi lỗi tự sửa, về sau chẳng tái phạm, chứ chẳng phải là đem tội lỗi của chính mình đối trước Phật đọc một lượt, dập đầu mấy lượt, cầu Phật, Bồ Tát tha thứ. Phật, Bồ Tát chẳng quan tâm đến chuyện của quý vị, sám hối là chuyện của quý vị. Phật, Bồ Tát chỉ cảnh tỉnh chúng ta, chỉ dạy chúng ta. Chân chánh sám hối là hiểu được lỗi lầm của chính mình, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng cực, liền có thể sám trừ tội nghiệp của chính mình, hết thảy tội lỗi trước đây chẳng nghĩ đến nữa, chỉ nghĩ đến A Di Đà Phật, chỉ niệm A Di Đà Phật, tội nghiệp của quý vị sẽ sám trừ sạch.

 

1.5. Kệ tụng tùy hỷ công đức

      Chánh kinh:

      Thập phương nhất thiết chư chúng sanh,

Nhị thừa hữu học cập vô học,

Nhất thiết Như Lai dữ Bồ Tát,

Sở hữu công đức giai tùy hỷ.

(Mười phương hết thảy các chúng sanh,

Nhị Thừa hữu học và vô học,

Hết thảy Như Lai và Bồ Tát,

Bao nhiêu công đức đều tùy hỷ)

 

Bài tụng thứ năm là tùy hỷ công đức. Công là công phu. Công phu như thế nào được quả báo như thế ấy, đó gọi là công đức. Công đức do tự mình tu, người khác chẳng đoạt được, quý vị cũng chẳng có cách nào đem cho người khác được. Phước đức do tự mình tu có thể đem cho người khác được; người khác tu có thể cho chúng ta được. Phước báo của họ lớn, ta cũng hưởng ké, hưởng được chút phước. Chúng ta phước báo lớn, thích giúp đỡ người khác, người khác được hưởng phước báo của ta. Phước báo có thể dời chuyển, công đức chẳng thể dời chuyển được. Công đức do mình tự tu tự được, người khác không cách gì làm thay được.

Ở đây, tùy hỷ công đức lấy công đức làm chủ, phước đức được tính gộp trong ấy. Trong công đức nhất định phải có phước đức, trong phước đức không nhất định có công đức. Công đức là Định - Huệ, Giới là phước đức. Trì giới đắc Định thì Giới cũng biến thành công đức.

Cảnh giới nói trong bài kệ rất lớn. “Mười phương hết thảy các chúng sanh”, chữ “chúng sanh” chỉ lục đạo chúng sanh (phàm phu). Lục đạo chúng sanh ác nhiều, thiện ít. Nếu những chúng sanh ấy khởi thiện niệm, làm được thiện hành (việc lợi ích cho chúng sanh), chúng ta đều tận tâm tận lực giúp đỡ họ, thành toàn cho họ trong việc tạo phước cho hết thảy chúng sanh. Công đức tùy hỷ của chúng ta cũng to như công đức của họ vậy.

“Nhị Thừa hữu học và vô học”: Nhị Thừa chỉ Thanh Văn, Duyên Giác, là Tiểu Thừa. Thanh Văn có tứ quả: Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả đều gọi là “hữu học”. Tứ Quả A La Hán là Vô Học. Người tu học pháp Tiểu Thừa từ Sơ Học cho đến chứng quả, chúng ta đều phải tùy hỷ, tán thán cả.

Có lẽ có đồng tu hỏi: “Chúng ta hiện tại tu pháp môn Niệm Phật, sao có thể tùy hỷ người tu học Tiểu Thừa cho được, chẳng phải là xen tạp đó ư?” Đúng, chẳng sai! Pháp môn Niệm Phật bao gồm hết thảy pháp môn. Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát nói với bậc Pháp Thân đại sĩ thuộc thế giới Hoa Tạng, đương nhiên họ phải tùy hỷ Tiểu Thừa. Chẳng hạn như Tiểu Thừa tu Tứ Niệm Xứ: quán thân bất tịnh, quán Thọ là khổ, quán pháp vô ngã, quán tâm vô thường. Nếu thường quán như vậy sẽ giúp cho tâm địa chúng ta thanh tịnh. Ba mươi bảy đạo phẩm có thể giúp chúng ta công phu thành phiến, nhất tâm bất loạn. Những gì Tiểu Thừa tu học đều là những phương pháp để đối trị một chứng bệnh. Nếu chúng ta mắc bệnh giống như thế thì có thể dùng phương pháp ấy để đối trị, để trợ tu, niệm Phật là chủ tu. Như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo đều có thể chọn dùng. Nếu tâm địa thanh tịnh, chắc thật niệm Phật, ắt chẳng cần đến những phương pháp đó, những phương pháp đó gộp trong một câu Phật hiệu, một câu Phật hiệu công đức vô lượng vô biên.

“Hết thảy Như Lai và Bồ Tát”: Đây là Đại Thừa. Bồ Tát viên mãn năm mươi mốt địa vị từ địa vị Sơ Tín cho đến Đẳng Giác bèn thành Phật. Bồ Tát từ sơ phát tâm cho đến khi tu hành chứng quả, ta cũng phải học tập theo gương ấy, ta cũng phải nghiêm túc nỗ lực học theo quý Ngài.

“Tất cả công đức đều tùy hỷ”: Ở đây, tùy hỷ đặt nặng vấn đề học tập theo họ, tận tâm tận lực giúp đỡ họ. Đa số người niệm mười đại nguyện vương, miệng niệm tùy hỷ, nhưng chẳng thật sự tùy hỷ. Rất thích một bộ kinh thì phải tùy hỷ. Phát tâm y giáo tu hành, phát tâm giảng bộ kinh đó, khiến nó được hoằng dương quang đại, đấy mới là tùy hỷ. Cứ nghĩ mình chẳng có năng lực, chẳng có biện tài thì quý vị tự xem nhẹ mình quá đấy! Cứ chân chánh phát tâm, Tam Bảo bèn gia trì.

Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ đời Tống, lúc chưa xuất gia làm một chức quan nhỏ, làm quan coi kho, thường lấy tiền trong kho mua các loài thủy tộc: tôm, cá v.v… để phóng sanh. Vì thế, mắc phải tội danh trộm đạo của công, theo pháp phải chịu tử hình. Ngô Việt Vương tín ngưỡng Phật pháp, biết Sư trộm dùng tiền kho toàn là để phóng sanh, truyền giám trảm quan chú ý thái độ của Sư trước lúc thọ hình. Trước lúc bị xử chém, Sư cười khúc khích, vui vẻ mừng rỡ, chẳng chút sợ hãi gì. Giám trảm quan hỏi:

- Sao ông không sợ chết?

Sư đáp:

- Tôi chỉ có một cái mạng, cứu được ngàn ngàn vạn vạn cái mạng, rất đáng giá!

Về sau, quốc vương chẳng giết Sư, thả Sư đi, Sư bèn xuất gia. Sư không có tài ăn nói, mộng thấy Quán Âm Bồ Tát dùng cam lộ nhỏ vào họng Sư, ngày hôm sau biện tài vô ngại. Sư phát tâm lên đài giảng kinh, hoằng dương Phật pháp lợi ích chúng sanh. Chẳng hề có mảy may ý niệm tự tư, tự lợi, Tam Bảo nhất định gia trì, cảm ứng đạo giao, đó gọi là “chân chánh tùy hỷ”.

 

1.6. Kệ tụng thỉnh chuyển pháp luân

      Chánh kinh:

      Thập phương sở hữu Thế Gian Đăng,

Tối sơ thành tựu Bồ Đề giả,

Ngã kim nhất thiết giai khuyến thỉnh,

Chuyển ư vô thượng diệu pháp luân.

(Mười phương tất cả Thế Gian Đăng,

Lúc mới thành tựu quả Bồ Đề,

Nay tôi đều khuyến thỉnh hết thảy,

Chuyển pháp luân vi diệu vô thượng)

 

Bài tụng thứ sáu là “thỉnh chuyển pháp luân”. Chuyển pháp luân là hoằng pháp lợi sanh, đem Phật pháp giới thiệu với người khác.

“Mười phương tất cả Thế Gian Đăng”: Đăng (đèn) tượng trưng cho trí huệ, quang minh. Thế Gian Đăng là cách nói ví von: Nếu thế gian không có Phật pháp bèn là thời đại tối tăm, giáo học của Phật pháp là dạy hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, khai ngộ là phóng quang minh. Phật pháp giúp cho tự tánh của chúng ta phóng quang, đấy chính là quang minh giáo học. Bởi thế Phật là Thế Gian Đăng (đèn soi thế gian).

“Lúc mới thành tựu quả Bồ Đề”: Câu này sử dụng thể loại song quan: Một là lúc mới thành Chánh Giác, thị hiện mới thành Phật đạo; hai là bậc Bồ Tát Sơ Trụ thuộc Viên Giáo. Trong Thiền Tông, “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” chỉ bậc Bồ Tát từ Sơ Trụ trở lên. Trong Tịnh Độ Tông, niệm Phật niệm đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn cũng là “mới thành tựu Bồ Đề”.

Hai câu trên có thể hiểu là: Trên từ Phật Như Lai, dưới đến bậc đại thiện tri thức chân chánh hữu tu hữu chứng, thảy đều bao gồm hết, “nay tôi đều khuyến thỉnh hết thảy, chuyển pháp luân vi diệu vô thượng”: dùng tâm chân thành cầu học, lễ thỉnh thiện tri thức hoằng pháp lợi sanh.

 

1.7. Kệ tụng thỉnh Phật trụ thế

Chánh kinh:

Chư Phật nhược dục thị Niết Bàn,

Ngã tất chí thành nhi khuyến thỉnh,

Duy nguyện cửu trụ sát trần kiếp,

Lợi lạc nhất thiết chư chúng sanh.

(Nếu chư Phật toan hiện nhập diệt,

Tôi đều chí thành mà khuyên mời:

Kính mong ở lâu sát trần kiếp,

Lợi lạc hết thảy các chúng sanh)

 

Bài tụng thứ bảy là “thỉnh chuyển pháp luân”. Hiện tại, dù Phật chẳng tại thế, vẫn có thiện tri thức (người sanh tử tự tại) hiện hữu, chúng ta phải khuyên họ chớ nhập diệt; khuyên họ thường trụ thế gian, đấy là nguyện vọng của chúng ta. Chư Phật, Bồ Tát trụ thế liên quan đến pháp duyên, hữu duyên các Ngài bèn xuất hiện; duyên hết, các Ngài bèn đi. Chân chánh học theo quý Ngài, một trăm phần trăm y giáo phụng hành mới lưu các Ngài trụ thế được. Nếu chẳng thành tâm thành ý học theo các Ngài, các Ngài bèn tùy duyên. Người khải thỉnh thiện tri thức giảng kinh, phước báo vô cùng lớn, thật sự là rộng lợi chúng sanh.

 

Chánh kinh:

Sở hữu lễ tán, cúng dường phước,

Thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân,

Tùy hỷ, sám hối, chư thiện căn,

Hồi hướng chúng sanh cập Phật đạo.

(Bao nhiêu phước lễ, tán, cúng dường,

Thỉnh Phật ở đời chuyển pháp luân,

Các thiện căn tùy hỷ, sám hối,

Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo)

 

Bài kệ này hợp tụng ba nguyện: thường tùy Phật học, hằng thuận chúng sanh và phổ giai hồi hướng. Ba nguyện này đều thuộc về hồi hướng. Bài kệ này nói chung; ba câu đầu lược nói bảy nguyện trước, đem hết thảy công đức đã tu ở trên hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo. Hồi hướng chúng sanh: Nếu chịu vì hết thảy chúng sanh khổ nạn mà tu học, ắt quý vị dũng mãnh, tinh tấn, chẳng biếng nhác. Hồi hướng Phật đạo tức là hồi hướng Bồ Đề, chúng ta tu học chẳng cầu giác ngộ, mà là vì hết thảy chúng sanh cầu sự viên mãn giác ngộ nơi chính mình.

 

1.8. Kệ tụng thường tùy Phật học

      Chánh kinh:

      Ngã tùy nhất thiết Như Lai học,

      Tu tập Phổ Hiền viên mãn hạnh,

      Cúng dường quá khứ chư Như Lai,

      Cập dữ hiện tại thập phương Phật.

      Vị lai nhất thiết Thiên Nhân Sư,

      Nhất thiết ý nhạo giai viên mãn,

      Ngã nguyện phổ tùy tam thế học,

      Tốc đắc thành tựu đại Bồ Đề.

(Tôi học theo hết thảy Như Lai,

Tu thập hạnh Phổ Hiền viên mãn,

Cúng dường quá khứ chư Như Lai,

Và cúng hiện tại mười phương Phật.

Hết thảy Thầy Trời Người tương lai,

Hết thảy ưa thích đều viên mãn,

Tôi nguyện học khắp cả ba đời,

Mau được thành tựu đại Bồ Đề)

 

Trùng tụng nguyện thứ tám “thường tùy Phật học”. Phải học theo tam thế chư Phật: quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật. Trong kinh văn đặc biệt nói “tu tập hạnh Phổ Hiền viên mãn”. Phổ Hiền hạnh: toàn bộ đạo lý được nói trong kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm đều là hạnh Phổ Hiền cả. Mở đầu kinh, ta đã gặp ngay Phổ Hiền Bồ Tát, đến khi viên mãn tối hậu cũng là Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền đại biểu cho viên mãn, kinh này có lý luận viên mãn, có phương pháp tu hành viên mãn, cũng như cảnh giới tối viên mãn. Chiếu theo kinh này tu hành đều là người đại căn tánh viên đốn cả.

“Cúng dường quá khứ chư Như Lai, và cúng hiện tại mười phương Phật”: Cúng dường tối trọng yếu là cúng dường bằng cách tu hành. Chiếu theo phương pháp mà tu hành, chính là cúng dường chân chánh. Nếu có thể tuyên dương, lưu thông kinh này thì chính là cúng dường thù thắng.

“Hết thảy Thầy Trời Người tương lai”: Thiên Nhân Sư là Phật, câu này nói đến các vị Phật tương lai. Phật tương lai chính là hết thảy chúng sanh. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật. Học theo các đức Phật tương lai như thế nào? Hết thảy chúng sanh hễ có chút điểm lành nhỏ nhoi nào, chúng ta đều phải tùy hỷ, học theo, huống hồ là phát tâm Bồ Đề, tu Bồ Tát đạo! Người khéo học thì bất luận cảnh giới nào cũng đều có thể tạo thành tựu cho chính mình. Mặt thiện của hết thảy chúng sanh chúng ta phải học theo, nếu là mặt ác, chúng ta nghe thấy, trông thấy phải phản tỉnh sâu xa, tự mình chẳng làm ác, đó là “tùy học” vậy. Nói cách khác, thuận hay nghịch đều là tăng thượng duyên. Người học Phật trong hết thảy hoàn cảnh đều tu thành kính, bình đẳng, thanh tịnh, từ bi, đó là Phổ Hiền hạnh.

“Hết thảy ưa thích đều viên mãn”: Hạnh có xứng tánh thì mới gọi là hạnh viên mãn. Nếu đánh mất cái tâm thành kính thì dù có tu hạnh gì đi nữa, cũng chẳng thể coi là xứng tánh được!

Tôi nguyện học khắp cả ba đời, mau được thành tựu đại Bồ Đề”: Câu cuối cùng chính là quả báo, mà cũng là mục tiêu của việc tùy học. Tác phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành Sớ Sao ghi: “Trong các chúng sanh, chỉ có trời và người là có thể phát tâm Bồ Đề”. Tam ác đạo mê rất nặng, nghiệp chướng quá nặng, chẳng dễ phát tâm Bồ Đề. Chỉ có hai đường trời và người là có thể phát tâm Bồ Đề, có thể tu hành mười thiện nghiệp, có thể đắc Tứ Quả, có thể đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Phương pháp để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Bởi thế, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nhất định phải hoàn thành nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới. Ý nghĩa thù thắng của kinh này nằm ở đây.

 

1.9. Kệ tụng hằng thuận chúng sanh

      Chánh kinh:

      Sở hữu thập phương nhất thiết sát,

Quảng đại thanh tịnh diệu trang nghiêm,

Chúng hội vi nhiễu chư Như Lai,

Tất tại Bồ Đề thọ vương hạ,

Thập phương sở hữu chư chúng sanh,

Nguyện ly ưu hoạn thường an lạc,

Hoạch đắc thậm thâm chánh pháp lợi,

Diệt trừ phiền não tận vô dư.

(Tất cả cõi nước khắp mười phương,

Rộng lớn thanh tịnh, trang nghiêm đẹp,

Chúng hội vây quanh các Như Lai,

Đều ở dưới cội cây Bồ Đề,

Mười phương tất cả các chúng sanh,

Nguyện lìa buồn khổ thường an lạc,

Đạt lợi rất sâu nơi chánh pháp,

Diệt trừ phiền não chẳng còn sót)

 

Bài tụng thứ chín là nguyện “hằng thuận chúng sanh”.

“Tất cả cõi nước khắp mười phương” ý nói cõi nước để nương vào (thế giới) rất lớn. Tất cả các chúng sanh trong mười phương hết thảy cõi Phật, chúng ta phải tùy thuận.

“Rộng lớn thanh tịnh, trang nghiêm đẹp”: Phàm có tu học pháp môn Phổ Hiền thì mới có thể thật sự thấy các cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm vi diệu trong mười phương, vì tâm Phổ Hiền là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì thân thanh tịnh. Thân lẫn tâm thanh tịnh thì cảnh giới bên ngoài không gì chẳng thanh tịnh. Tất cả những cảnh giới Thiện Tài đồng tử đã trải qua, toàn là những tịnh độ thanh tịnh trang nghiêm vi diệu của chư Phật, không một chỗ nào chẳng phải là tịnh độ. Chúng ta thấy có thiện, có ác, chứ Thiện Tài chỉ thấy thuần thiện không ác; cách thấy, cách cảm nhận của Ngài khác với chúng ta. Chúng ta trông thấy hết thảy cảnh giới đâm ra phiền não, sanh lòng mừng, giận, buồn, vui. Thiện Tài đồng tử tiếp xúc cảnh giới bên ngoài chẳng sanh phiền não, mà sanh trí huệ, sanh tâm thanh tịnh. Bởi thế, trong tầm mắt Ngài toàn là cõi nước thanh tịnh vi diệu trang nghiêm. Chúng ta niệm Phật đến mức Nhất Tâm Bất Loạn sẽ chứng nhập cảnh giới đó, cảnh giới ấy chính là cảnh giới của Lý Nhất Tâm Bất Loạn.

“Chúng hội vây quanh các Như Lai, đều ở dưới cội cây Bồ Đề”: Chúng hội chính là các nơi đại chúng tụ hội, ở đây chỉ các đại Bồ Tát chúng, Bồ Tát vây quanh đức Phật, chúng ta phải tùy thuận Bồ Tát.

Bài kệ thứ hai nói đến việc tùy thuận chúng sanh. “Mười phương tất cả các chúng sanh”: phạm vi rộng lớn, Thanh Văn, Duyên Giác, lục đạo chúng sanh.

“Nguyện lìa buồn khổ thường an lạc”: câu này nói lên ý nguyện tu học của Bồ Tát. Vì sao chúng ta học Phật? Là vì có thể lìa khổ được vui. Nói cách khác: Chúng ta tu hành đừng chỉ vì mình, đó là hạnh Phổ Hiền. Ta tu học vì đại chúng, chính mình phải chịu nhiều phần khổ sở, đại chúng chịu ít phần khổ sở, thay thế chúng sanh chịu khổ mà! Dẫu chúng sanh ai nấy đều có nghiệp báo, chúng ta chẳng chịu thay được, nhưng tâm chúng ta viên mãn, thật sự có lòng muốn chịu khổ thay cho họ thì niệm niệm viên mãn công đức. Nhờ đó, trong quá trình tu học, đối với hết thảy khổ nạn phải chịu đựng, bản thân mình cũng có thể chịu đựng được. Tự mình chẳng oán trời trách người, vì đó [cũng như là] chịu khổ thay cho hết thảy chúng sanh, đó là ý nguyện của Bồ Tát, là ý nguyện của chính mình.

“Đạt lợi rất sâu nơi chánh pháp”: Lợi là ích lợi. Chỉ có tín nguyện viên mãn thì mới hòng đạt lợi ích chân thật nơi Phật pháp. Hiện thời, muốn đạt được chánh pháp rất sâu rất khó. Trong đời Mạt Pháp, tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng, tà và chánh rất khó phân biệt. Đi theo đường tà, lầm tưởng là chánh, tu trì một đời chẳng những mất trắng, còn e chuốc lấy rất nhiều tội nghiệp, rất nhiều quả báo chẳng như ý. Trong lúc chúng ta chẳng có năng lực phân biệt tà chánh thì phải thường đọc tụng kinh điển Đại Thừa, đãi người tiếp vật lấy kinh điển làm tiêu chuẩn, dùng tiêu chuẩn đó để tiếp cận chánh pháp, lấy tiêu chuẩn đó để ngoảnh mặt cùng tà pháp. Tham cầu danh văn lợi dưỡng là tà pháp, lợi ích hết thảy chúng sanh là chánh pháp; trong quá trình phát nguyện tu học, ắt có thể đạt được lợi ích nơi chánh pháp rất sâu. Chánh pháp rất sâu chính là thành kính, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi.

“Diệt trừ phiền não chẳng còn sót”: tham, sân, si, mạn, thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, thành kiến rất sâu, đều là cội nguồn phiền não. Chỉ cần đạt được chánh pháp, tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, từ bi thì mới dẹp trừ được tất cả phiền não từ cội rễ.

Học tập hằng thuận giúp ta phá được chấp trước. Nếu phá được Ngã Chấp, niệm Phật sẽ đạt Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Niệm niệm đều vì lợi ích chúng sanh; niệm niệm đều nhằm tạo phước cho xã hội, đấy chính là hạnh Bồ Tát.

 

1.10. Kệ tụng phổ giai hồi hướng

 

Dưới đây là hai mươi lăm bài kệ tụng về nguyện thứ mười “phổ giai hồi hướng”. Trong nguyện thứ mười có phần phát đại nguyện, tổng cộng là mười mục nhỏ: nguyện thọ trì, nguyện tu hành được hai thứ lợi ích, nguyện thành thục chúng sanh, nguyện chẳng lìa, nguyện cúng dường, nguyện lợi ích, nguyện chuyển pháp luân, nguyện Tịnh Độ, nguyện thừa sự, nguyện thành Chánh Giác. Mười mục nhỏ này đều được triển khai từ một đại nguyện “phổ giai hồi hướng” của Bồ Tát Phổ Hiền, dùng thể tài kệ tụng khiến cho ý nghĩa “phổ giai hồi hướng” được viên mãn hoàn bị.

 

1.10.1. Nguyện thọ trì

      Chánh kinh:

      Ngã vị Bồ Đề tu hành thời,

Nhất thiết thú trung thành Túc Mạng,

Thường đắc xuất gia tu tịnh giới,

Vô cấu, vô phá, vô xuyên lậu,

Thiên, Long, Dạ-xoa, Cưu Bàn Trà,

Nãi chí nhân dữ phi nhân đẳng,

Sở hữu nhất thiết chúng sanh ngữ,

Tất giai chư âm nhi thuyết pháp.

(Lúc tôi vì Bồ Đề tu hành,

Trong hết thảy loài đắc Túc Mạng,

Thường được xuất gia, tu tịnh giới,

Không nhơ, không phá, không rò rỉ,

Trời, Rồng, Dạ Xoa, Cưu Bàn Trà,

Cho đến nhân cùng phi nhân thảy,

Tất cả hết thảy tiếng chúng sanh,

Đều dùng các âm để thuyết pháp)

 

“Lúc tôi vì Bồ Đề tu hành, trong hết thảy loài đắc Túc Mạng”: Tu hành nhằm để chính mình thật sự giác ngộ. Người giác ngộ biết “phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”. Thân là hư vọng, có sanh, có diệt; linh tánh là chân, bất sanh bất diệt. Chúng ta phải nhờ vào giả để tu chân, thân là giả, nhờ vào cái thân thể hư giả để tu tánh linh của chính mình, tu cái chân tâm của chính mình, tu bổn tánh của chính mình. Tu đến mức độ tương đương sẽ được Thiên Nhãn, Thiên Nhĩ, Túc Mạng (biết những việc trong các đời quá khứ), đối với hết thảy sự lý thế gian, xuất thế gian đều thấy rõ ràng, minh bạch. Đạt thần thông chớ nên khoe khoang. Vì muốn chánh pháp tồn tại lâu dài trong thế gian, đức Phật chẳng dùng thần thông để giáo hóa. Yêu ma, quỷ quái đều có thần thông, nhưng chẳng có chánh tri chánh kiến. Phật, Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, dùng chánh tri kiến giáo hóa chúng sanh.

“Thường được xuất gia tu tịnh giới”: Ở đây “xuất gia” không phải là thoát ly gia đình mình mà là tâm thoát khỏi nhà vô minh, ra khỏi nhà phiền não, còn thân thì thị hiện hoặc xuất gia hoặc tại gia. Đối với thế gian này tâm địa chẳng nhiễm mảy trần, đó là “xuất gia tu tịnh giới”. Trong năm mươi ba lần tham học của kinh Hoa Nghiêm, trong năm mươi ba vị Bồ Tát, thân lẫn tâm cùng xuất gia chỉ có năm người; ngoài ra đều là tâm xuất gia, thân chẳng xuất gia, là tại gia cư sĩ, nam, nữ, già, trẻ, các hạnh, các nghiệp đều hành Bồ Tát đạo.

“Không nhơ, không phá, không rò rỉ”: Giới luật thanh tịnh, không phá giới. Hai câu này cũng có nghĩa là hộ pháp, giữ cho thân tâm của chính mình thanh tịnh chính là hộ trì Phật pháp. Thân tâm chẳng thanh tịnh chẳng thể thành Phật được. Để cầu vô thượng Bồ Đề thì phải giữ cho thân tâm thanh tịnh.

“Trời, Rồng, Dạ Xoa, Cưu Bàn Trà, cho đến nhân cùng phi nhân thảy, tất cả hết thảy tiếng chúng sanh, đều dùng các âm để thuyết pháp”: Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, lục trần thuyết pháp, tình và vô tình cùng tuyên diệu pháp. Cõi này, tình và vô tình không gì chẳng thuyết pháp, đều dùng các âm thanh để thuyết pháp. Chúng ta thấy sắc nghe hương đều có thể khai ngộ vậy! Tâm thanh tịnh bèn khai ngộ.

Lục trần xác thực có thuyết pháp, tiếc rằng tâm chúng ta chẳng thanh tịnh, tiếp xúc suốt ngày từ sáng đến tối chẳng những không thể khai ngộ, trái lại còn tăng trưởng phiền não. Người tâm địa thanh tịnh gặp cảnh giới bèn tăng trưởng Bồ Đề.

Bài kệ này còn có nghĩa là: Tự mình phát tâm đại từ bi, vì hết thảy chúng sanh thuyết pháp, cổ vũ chúng ta bắt chước Bồ Tát, học được một mảy một giọt pháp gì đều xoay vần lưu thông, nhất là khuyên người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, phước báo rất lớn.

 

1.10.2. Nguyện tu hành được hai thứ lợi ích

      Chánh kinh:

      Cần tu thanh tịnh Ba La Mật,

      Hằng bất vong thất Bồ Đề tâm,

Diệt trừ chướng cấu vô hữu dư,

Nhất thiết diệu hạnh giai thành tựu.

Ư chư hoặc nghiệp cập ma cảnh,

Thế gian đạo trung đắc giải thoát,

Do như liên hoa bất trước thủy,

Diệc như nhật nguyệt bất trụ không.

(Siêng tu Ba La Mật thanh tịnh,

Thường chẳng quên mất tâm Bồ Đề.

Diệt trừ chướng cấu không còn sót,

Hết thảy diệu hạnh đều thành tựu.

Với các hoặc nghiệp và cảnh ma,

Được giải thoát nơi đường thế gian,

Ví như hoa sen chẳng dính nước,

Cũng như nhật, nguyệt chẳng dừng không)

 

“Siêng tu Ba La Mật thanh tịnh”: Ba La Mật là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Đáo Bỉ Ngạn, rốt ráo viên mãn. Thanh tịnh Ba La Mật tức là Lục Độ của Bồ Tát vừa viên mãn rốt ráo vừa thanh tịnh, hoàn toàn chẳng chấp trước.

Kinh Bát Nhã nói “tam luân thể không” tức là dạy chúng ta phải lìa hết thảy tướng. Ví như tu bố thí, chớ nghĩ rằng: hôm nay tôi tu bao nhiêu bố thí, làm được bấy nhiêu việc tốt! Có Ngã, chấp vào Ngã Tướng thì dù có tu bố thí vẫn chẳng thanh tịnh. Ta bố thí cúng dường cho ai đó, tướng người cũng quên mất, trong tâm chẳng nhớ ai là đối tượng nhận bố thí. Tiền tài, vật phẩm dùng để bố thí cũng chẳng ghi trong lòng. Có làm cũng như không làm, từ đầu đến cuối gìn giữ cái tâm thanh tịnh, một niệm chẳng sanh. Đấy chính là như Lục Tổ đại sư đã nói: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần!” Đấy mới là chân chánh đạt đến thanh tịnh. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta phải nỗ lực tinh tấn tu học thanh tịnh Ba La Mật.

“Thường chẳng quên mất tâm Bồ Đề”: Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát giảng Bồ Đề tâm là trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn cũng giảng Bồ Đề tâm là chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm. Tổng hợp lại, chí thành là trực tâm, hồi hướng phát nguyện tâm là đại bi tâm. Trực là chánh trực, chánh: chẳng tà, trực: chẳng cong quẹo. Tâm chúng ta phải chánh, phải trực. Tâm vốn là chánh trực. Chí thành nghĩa là chân thành đạt đến mức cùng cực, đó là Trực Tâm. Trong tâm có cong quẹo, trong tâm chẳng chân thành thì chẳng phải là Bồ Đề tâm.

Bồ Đề là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Tàu là Giác. Tâm chúng ta vốn là giác. Giác chẳng cần phải học mà vốn sẵn có. Mã Minh Bồ Tát nói: “Bổn Giác vốn sẵn có”. Bổn Giác tức là tâm Bồ Đề, mỗi một chúng sanh chúng ta đều sẵn có. Dẫu là có, nhưng hiện tại ta chưa có là vì chẳng giác. Mã Minh Bồ Tát lại nói: “Bất giác vốn là không”. Bất Giác vốn chẳng có. Do đây biết rằng, Bồ Đề tâm chính là chân tâm của chúng ta, chân tâm vốn sẵn có; Bất Giác là vọng tâm, vọng tâm vốn là không. Vốn sẵn có thì đương nhiên có thể khôi phục, vốn là không thì đương nhiên có thể đoạn trừ.

Ba tâm thật ra chỉ là một tâm, tức là chân tâm. Trực tâm, chí thành tâm là bản thể của chân tâm. Chân tâm khởi tác dụng, tác dụng chia làm hai loại: Đối với chính mình thì gọi là thâm tâm; đối với người khác thì gọi là bi tâm. Thâm tâm thanh tịnh, từ bi, thanh tịnh đến cùng cực, từ bi đến cùng cực. Tâm như thế tự nhiên hiếu đức, hiếu thiện. Hiếu đức và hiếu thiện chẳng cần phải học mà là công đức của tự tánh. Chân tâm (Bồ Đề tâm) chính là tự tánh. Tự tánh đối với chính mình khởi tác dụng, chẳng cần người khác dạy, tự nhiên hiếu đức, hiếu thiện.

Đức và thiện đạt đến mức cùng cực chính là Phật pháp, do đây biết rằng: người ấy tự nhiên yêu thích Phật pháp, tự nhiên quy hướng, chẳng cần người khác dạy, cũng chẳng cần ai khuyến khích, cái tâm ấy gọi là thâm tâm. Đối với người khác cũng tự nhiên sanh khởi bi tâm: Trông thấy chúng sanh sung sướng, tự mình thật vui sướng, trông thấy người khác đau khổ tự mình rất buồn khổ. Bởi vậy, nhất định phải giúp đỡ chúng sanh lìa khổ được vui. Chúng sanh lìa khổ là chính mình lìa khổ, chúng sanh được vui cũng như chính mình được vui. Chúng sanh và bản thân mình là một thể, chẳng phải hai thể.

Phật pháp Đại Thừa lấy Bồ Đề tâm làm cơ sở. Người Tiểu Thừa chẳng có tâm Bồ Đề, bởi lẽ họ chẳng đại từ đại bi, chúng sanh tìm cầu họ, họ chịu dạy, chúng sanh chẳng tìm cầu họ, họ chẳng quan tâm đến. Đại Thừa Bồ Tát đại từ đại bi, không phân biệt, giới hạn, làm bạn chẳng thỉnh của hết thảy chúng sanh, chỉ cần thấy chúng sanh đau khổ là Ngài bèn đến.

Nho Giáo cũng kiến lập trên cơ sở Bồ Đề tâm. Trung tâm sự dạy dỗ của Nho Giáo là thành ý, chánh tâm, chẳng ngờ rất phù hợp với lời dạy của nhà Phật. Thành ý là Thể, chánh tâm là Dụng. Nho giáo nói mỗi cá nhân nếu chẳng thành thật, trọn chẳng thể trở thành thánh, thành hiền. Mỗi một cá nhân đều phải vận dụng cái tâm chân thành, sau đấy mới tu thân (tu dưỡng thành tựu phẩm đức, học vấn của chính mình), tề gia (gia đình mỹ mãn), trị quốc (quốc gia, chính trị đi vào quy củ), bình thiên hạ (người trong thiên hạ đều được công bình, chẳng có tranh chấp, thiên hạ thái bình). Đấy chính là cơ sở giáo học, lý tưởng giáo học của Nho gia.

Làm thế nào để tâm chân thành (Bồ Đề tâm) hiện tiền? Phải đoạn hai Chướng: Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng chướng ngại thân tâm khiến chân tâm chẳng thể hiện tiền. Người Tiểu Thừa phá được Phiền Não Chướng, nhưng chưa phá Sở Tri Chướng. Sở Tri Chướng chướng ngại Bồ Đề tâm, Bồ Đề tâm chẳng thể hiện tiền. Nho gia nói “cách vật trí tri”, “cách vật” là như nhà Phật nói “đoạn phiền não”, “trí tri” là phá Sở Tri Chướng. Vật là vật dục (danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần), Cách là phải chống cự lại chúng, phải chiến thắng ý niệm vật dục. Chiến thắng được vật dục, chẳng để vật dục lay động, sẽ chẳng còn phiền não nữa. Buông xuống là đoạn Phiền Não Chướng, thấy thấu suốt là phá Sở Tri Chướng. Sau khi cách vật lại phải trí tri. Cách vật là đoạn phiền não, trí tri là học pháp môn. Đột phá hai Chướng, thành ý hiện tiền, Bồ Đề tâm mới có thể chân chánh phát khởi.

Đối với Bồ Đề tâm, Ngẫu Ích đại sư có một cách giải thích rất đặc biệt, đơn giản dễ hiểu. Ngài nói: “Nhất tâm nhất ý cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, cái tâm ấy chính là Vô Thượng Bồ Đề tâm”. Nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ, đương nhiên buông bỏ danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần thế gian, phiền não không còn nữa. Nhất tâm xưng niệm A Di Đà Phật là phá Sở Tri Chướng, là phá vô minh, đấy là Trí Tri như Nho Gia đã nói. Những bà già niệm Phật, không biết chữ, cũng chưa từng nghe kinh, vì sao họ vãng sanh: đứng mà mất, ngồi mà mất, trông thấy Phật đến tiếp dẫn vậy? Các bà cụ đó chẳng biết Bồ Đề tâm là cái gì, cớ sao được vãng sanh? Là vì các bà cụ ấy nhất tâm nhất ý cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. Cái tâm ấy chính là Vô Thượng Bồ Đề tâm, cho nên thành ý, hiếu đức, hiếu thiện, đại từ đại bi thảy đều đầy đủ. Bồ Đề tâm, trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm nghe đến chẳng hiểu rõ cũng không quan trọng, chẳng cần phải hiểu, cốt sao nhất tâm nhất ý cầu sanh Tịnh Độ là được!

Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta pháp môn sau: “Hằng chẳng quên mất Bồ Đề tâm”. Hằng là thường hằng, thời thời khắc khắc chẳng quên “tôi muốn cầu sanh Tịnh Độ”. Thời thời khắc khắc chẳng quên “tôi muốn thấy A Di Đà Phật”. Người như vậy là chân chánh giác ngộ. Bồ Đề tâm là đại giác, chân chánh giác ngộ, triệt để giác ngộ. Trong tâm chúng ta thời thời khắc khắc niệm niệm chẳng quên Tịnh Độ, niệm niệm chẳng quên A Di Đà Phật, đấy đúng thật là đại Bồ Đề tâm, ở đây gọi là “hằng chẳng quên mất Bồ Đề tâm”. Chỉ cần có cái tâm này thì sẽ có thể tiêu nạn diệt tội, “diệt trừ chướng cấu không còn sót”. Đó là vì tâm quý vị thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh chẳng thể chứa đựng tội nghiệp. Chướng là nghiệp chướng, Cấu là phiền não, tập khí, nhiễm ô. “Vô hữu dư” (không còn sót): diệt trừ sạch sành sanh hết thảy chướng ngại, phiền não, thảy đều đoạn hết. Bởi thế, một câu Phật hiệu công đức chẳng thể nghĩ bàn. Một câu Phật hiệu ấy phải từ cái tâm thanh tịnh niệm ra, phải từ cái tâm chánh giác niệm ra, phải từ tâm chân thành niệm ra mới diệt được tội.

“Hết thảy diệu hạnh đều thành tựu”: Một tức là hết thảy. Một câu Phật hiệu có đủ tám vạn bốn ngàn pháp môn Bồ Tát tu, vô lượng hạnh môn. Tu một pháp môn tức là tu hết thảy pháp môn, hết thảy diệu hạnh đều thành tựu. Phương pháp tu hành này rất thù thắng!

“Với các hoặc nghiệp và cảnh ma”: Hoặc nghiệp chính là cái bản thân chúng ta có đủ, mê hoặc tạo nghiệp! Bây giờ tâm chúng ta thanh tịnh, tâm chân thành, chẳng còn mê hoặc nữa, chẳng tạo nghiệp nữa, thì chẳng có mê hoặc tạo nghiệp nữa! Ma cảnh là cảnh giới bên ngoài. Ma là chướng ngại, là rắc rối, khiến chúng ta làm bất cứ chuyện gì cũng chẳng thuận lợi, đều bị trở ngại, đó là ma cảnh. Phải có các Hoặc (nội ma) thì ngoại ma mới có cách xâm nhập, nhiễu loạn mình được!

Theo kinh Bát Đại Nhân Giác, có bốn loại Ma:

1) Ngũ Ấm ma:

Ai nấy đều có cả. Thân chúng ta là thân Ngũ Ấm. Ngũ Ấm: Sắc (vật chất, nhục thể), Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thọ, Tưởng, Hành, Thức là Tâm. Thức là tâm, Thọ, Tưởng, Hành là tác dụng của Tâm. Ngũ Ấm là ma, chúng ta không có cách gì thoát được. Niệm Phật niệm đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn, tham thiền đến mức minh tâm kiến tánh mới có thể thoát được. Tâm kinh chép: “Quán Tự Tại Bồ Đề lúc thực hành sâu xa Bát Nhã Ba La Mật, chiếu kiến (soi thấy) Ngũ Uẩn đều không”; Ngài đã thoát được Ngũ Ấm. Hiện thời chúng ta Ngũ Ấm chẳng không; công phu nhà Thiền chia thành ba bậc:

a. Thấp nhất là Quán Chiếu. Quán chiếu có đắc lực thì công phu mới vào khuôn khổ. Nếu quán chiếu chẳng đắc lực, công tu vô ích.

b. Sâu hơn một tầng là Chiếu Trụ, tức là đắc Thiền Định. Thiền Định có mức độ sâu cạn khác nhau, chia thành chín đẳng cấp. Trong tam giới, Tứ Thiền Thiên thuộc Sắc Giới có bốn đẳng cấp, Tứ Định thiên thuộc Vô Sắc Giới có bốn đẳng cấp, đẳng cấp thứ chín vượt ngoài Tam Giới. A La Hán, Bích Chi Phật chứng được Định thứ chín, tuy chứng được Định thứ chín, nhưng công phu chiếu trụ chưa đạt đến mức “chiếu kiến”.

c. Lên một tầng nữa là Chiếu Kiến: Chiếu kiến tức là thấy Tánh, chân tâm hiển lộ, Bồ Đề tâm tự nhiên hiện tiền.

Công phu thấp nhất của người niệm Phật là “công phu thành phiến”, tương đương với mức Quán Chiếu đắc lực của nhà Thiền. Cao hơn là Sự Nhất Tâm Bất Loạn, tương đương với Chiếu Trụ. Cao hơn nữa là Lý Nhất Tâm Bất Loạn tương đương với Chiếu Kiến. Thiền tông tu học rất khó, Tịnh Độ Tông dùng một câu Phật hiệu, một câu Phật hiệu niệm đến rốt ráo, công phu thành phiến, Sự Nhất Tâm Bất Loạn, Lý Nhất Tâm Bất Loạn đều dùng phương pháp này. Thậm chí tương lai thành Phật cũng vẫn cứ dùng phương pháp này, một câu Phật hiệu vĩnh viễn chẳng biến cải.

Trong chương Viên Thông, Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai”. Chẳng cần nhờ vào bất cứ phương pháp nào khác, cứ một câu Phật hiệu niệm đến cùng cực, niệm đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn, tâm khai kiến giải, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Đến lúc đó, liền chiếu kiến Ngũ Uẩn đều không, phá Ngũ Ấm ma.

2) Phiền não ma:

Phiền não là ma. Phiền não do tham, sân, si mà khởi. Bởi thế, tham - sân - si gọi là ba độc phiền não. Tu hành phải tu từ cội rễ. Đã biết tham - sân - si là cội rễ của tất cả hết thảy phiền não thì chúng ta phải đoạn phiền não, rễ bị nhổ bứng thì cành lá tự nhiên chẳng còn. Làm thế nào để nhổ bứng rễ?

Đoạn Tham phải dùng bố thí, bố thí độ keo tham. Độ là độ chính mình, chẳng độ người khác. Công đức của bố thí là đoạn trừ cái tâm tham của chính mình. Chẳng có tâm tham, tâm địa thanh lương tự tại. Bố thí là tự mình được lợi, người khác được lợi ích rất hữu hạn. Nhổ trừ tham - sân - si vĩnh viễn thoát luân hồi. Đoạn Sân phải dùng Nhẫn Nhục, Nhẫn Nhục độ sân khuể. Ngu si là vô minh, Bát Nhã độ ngu si.

Bồ Tát tu lục độ vạn hạnh để độ chính mình, độ chính mình thì trước hết phải đoạn phiền não ma. Phương pháp Bồ Tát Phổ Hiền dạy chúng ta ở đây so ra cao hơn phương pháp tu hành của Đại Thừa Bồ Tát rất nhiều. Ngài Phổ Hiền dạy chúng ta thanh tịnh Ba La Mật. Có tham ái, sân khuể, ngu si là tâm chẳng thanh tịnh. Nếu tâm thanh tịnh, tự nhiên chẳng có tham, sân, si, phiền não ma. Niệm A Di Đà Phật, nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ, tâm bèn thanh tịnh thì mới có thể phá phiền não ma.

3) Tử ma:

Cũng là đối với người tu hành mà nói. Dù quý vị rất dụng công tu hành, tinh tấn chẳng biếng nhác, nhưng phiền não khó đoạn, phá Sở Tri Chướng cũng khó, công phu vẫn chưa đắc lực, kinh điển vẫn chưa niệm xong, thọ mạng đã hết. Chết đi, lại phải luân hồi. Dù quý vị làm toàn việc tốt, chẳng phạm tội, đời sau được làm người, do mê nơi cách ấm nên phải học Phật pháp lại từ đầu.

Tử ma rất đáng sợ, chỉ có niệm Phật mới có thể đối phó tử ma. Nhất tâm xưng niệm, nhất tâm cầu sanh, tương lai vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, là đi ngay trong lúc sống, chẳng phải chết rồi mới đi. Lúc đi, mắt được thấy, tai được nghe, mũi vẫn thở, miệng còn nói năng được, bảo với mọi người: “A Di Đà Phật đến đón rồi, tôi theo Ngài đi đây, tạ từ giã biệt mọi người”. Đi trong lúc sống là vậy đó. Vãng sanh thế giới Cực Lạc chẳng chết, tử ma tránh xa.

4) Thiên ma:

 Ba thứ ma kể trên đều là ma nơi bản thân, chỉ có thiên ma là ở ngoài. Yêu ma, quỷ quái bên ngoài đến chướng ngại ta, gây phiền não cho ta. Nếu chúng tìm đến ta tức là trong tâm ta ắt có nội gian lôi kéo chúng nó nên chúng nó mới có sức. Trong tâm ta chẳng có nội gian, dù thiên ma sức lớn đến đâu cũng không cách gì xâm nhập được, chúng chẳng làm gì được hết. Nội gian chính là phiền não của chúng ta! Tôi gặp rất nhiều người bị ma dựa, yêu ma quỷ quái nhập thân, đau khổ vô cùng, tinh thần suy sụp, thường nghe có tiếng người nói, hoặc thấy hình tướng hiện ra, cả ngày lẫn đêm đều chẳng yên ổn.

Ở Cựu Kim Sơn (San Francisco) có một nam đồng tu đến bảo tôi ông ta bị ma dựa đã hơn một năm, thỉnh rất nhiều pháp sư đến đuổi ma, đều không làm gì được. Tôi hỏi:

- Có phải anh rất thích thần thông hay chăng?

Anh ta nói:

- Thưa đúng, con thích lắm.

Tôi nói:

- Có gì lạ đâu! Ưa thích thần thông chính là nội gian dẫn ma đến. Chính anh dẫn ma đến, người khác không cách gì đuổi nổi! Từ giờ trở đi, phải trừ sạch ý niệm thần thông cảm ứng đi, đừng nghĩ đến nó nữa, thành tâm thành ý niệm Phật, ma ắt phải đi. Vì anh chẳng yêu mến chúng nó nữa, chẳng thích chúng nó nữa, tự nhiên chúng phải đi.

Phàm ai bị ma dựa, tâm nhất định chẳng thanh tịnh. Quý vị tu cái tâm thanh tịnh, ma không cách gì bén mảng được, tự nhiên phải bỏ đi. Tâm thanh tịnh được chư Phật, Bồ Tát hộ niệm, được thiện thần hộ pháp bảo vệ, ma phải bỏ đi; thiên ma chẳng thể xâm phạm.

Được giải thoát nơi đường thế gian”: Trong thế gian này tu tâm, tu nhân, chứng quả, thuận gió căng buồm, chẳng có chướng ngại, đạt đến tự tại.

“Ví như hoa sen chẳng dính nước, cũng như nhật, nguyệt chẳng dừng không”: Hai câu này là hai câu nổi tiếng của kinh Hoa Nghiêm, cổ đại đức khi chú giải kinh điển thường trích dẫn. Hai câu này là nói tỷ dụ nhằm dạy chúng ta cách tu tâm thanh tịnh. Ví như hoa sen chẳng dính nước: hãy xem hoa sen, nghĩ đến hoa sen, tâm chúng ta cũng phải thanh tịnh giống như hoa sen. Rễ hoa sen sanh trưởng trong bùn nhơ nơi đáy ao, cọng ngập trong nước, hoa vươn lên khỏi mặt nước.

Phật ví bùn như lục đạo (lục phàm), là nhiễm ô. Nước ví như bốn pháp giới (tứ thánh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật), là thanh tịnh. Hoa nở trên mặt nước tức là chẳng nhiễm lục phàm, tứ thánh cũng chẳng nhiễm. Nói cách khác, pháp thế gian chẳng nhiễm, Phật pháp cũng chẳng nhiễm. Kinh Kim Cang nói: “Pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp?” Phật pháp chúng ta tạm thời dùng, thành tựu rồi Phật pháp cũng bỏ luôn. Giống như mắc bệnh uống thuốc, bệnh lành, uống thuốc làm chi nữa?

Dùng hoa sen để diễn tả pháp, phải vượt khỏi lục phàm tứ thánh. Lục phàm tứ thánh đều phải vượt thoát hết, đó là cảnh giới nào vậy? Bất đắc dĩ phải gọi là Nhất Chân Pháp Giới. Mười pháp giới là giả, chỉ có Nhất Chân Pháp Giới là thật. Nhất là nhất tâm. Tịnh Độ Tông hay ở chỗ trực tiếp tu nhất tâm bất loạn, dùng một câu Phật hiệu, đấy là phương pháp, đấy là thủ đoạn, mục đích nhằm đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn. Đạt đến Nhất Tâm tức là Nhất Chân Pháp Giới, là siêu việt lục phàm tứ thánh vậy.

Cũng như mặt trời, mặt trăng chẳng dừng trên hư không: Nhật, nguyệt vận hành trên không trung, nó chẳng ngưng lại! Chẳng ngưng thì chẳng bị trở ngại. Đấy là điều đức Phật dạy chúng ta: Đối với hết thảy pháp thế gian hay xuất thế gian đều chẳng nên chấp trước. Trụ là chấp trước, tức là trong tâm quý vị có cái gì đó, quý vị nghĩ đến nó chính là “trước” (dính mắc).

Trong Thiền Tông, nếu trong tâm có mảy may chấp trước nào bèn là sai, bởi thế, Thiền Tông khó tu. Tịnh tông dạy quý vị chấp trước vào A Di Đà Phật, buông bỏ những chấp trước khác, dùng chấp trước này thay thế cho tất cả hết thảy chấp trước khác. Tâm chẳng chấp trước rất khó, bởi thế dạy quý vị chấp trước A Di Đà Phật (Phật hiệu). Niệm đến khi đại khai viên giải, niệm đến lúc đại triệt đại ngộ, A Di Đà Phật cũng chẳng cần đến nữa, bởi lẽ bệnh lành rồi, cần chi đến thuốc nữa!

Bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo dùng phương pháp Niệm Phật phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, bèn đại khai viên giải, đại triệt đại ngộ, đạt được Lý Nhất Tâm Bất Loạn. Vô minh có bốn mươi mốt phẩm, quý vị chỉ mới phá được một phẩm, bệnh tuy lành nhưng bệnh căn (gốc bệnh) chưa trừ. Nói cách khác, tuy không cần uống thuốc nhưng vẫn cần điều dưỡng. Để điều dưỡng thì vẫn dùng một câu Phật hiệu! Câu Phật hiệu ấy lại phá những phần vô minh kế tiếp, mãi cho đến khi thành Phật. Lúc đó, hoàn toàn dứt sạch gốc bệnh rồi, khôi phục sức khỏe rồi, đương nhiên chẳng cần đến Phật hiệu nữa; nhưng vẫn chẳng vứt bỏ Phật hiệu, vẫn tiếp tục niệm Phật, đó là đại từ đại bi niệm cho chúng sanh thấy.

Phật nào cũng niệm A Di Đà Phật, nên chúng ta phải niệm A Di Đà Phật. Phật niệm A Di Đà Phật để hóa độ chúng sanh, làm gương cho chúng sanh thấy. Trong Di Đà Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích viết: “Thích Ca Mâu Ni Phật do niệm A Di Đà Phật mà thành Phật”. Đối với hết thảy pháp, người học Phật chẳng nên chấp trước; nhưng chúng ta nghiệp chướng tập khí rất nặng, chẳng chấp trước mọi thứ thì chúng ta chưa làm được. Bởi thế, phương pháp của Tịnh tông hay ở chỗ dạy quý vị chấp trì danh hiệu, quý vị chấp trước vào một câu Phật hiệu, dốc tâm vào một chỗ, ngoại trừ danh hiệu ra, hết thảy thứ gì khác đều chẳng chấp trước.

 

1.10.3. Nguyện thành thục chúng sanh

      Chánh kinh:

      Tất trừ nhất thiết ác đạo khổ,

      Đẳng dữ nhất thiết quần sanh lạc,

Như thị kinh ư sát trần kiếp,

Thập phương lợi ích hằng vô tận,

Ngã thường tùy thuận chư chúng sanh,

Tận ư vị lai nhất thiết kiếp,

Hằng tu Phổ Hiền quảng đại hạnh,

Viên mãn vô thượng đại Bồ Đề.

(Thảy trừ hết thảy khổ ác đạo,

Bình đẳng ban vui hết thảy loài,

      Trải qua sát trần kiếp như thế,

      Luôn lợi ích mười phương vô tận,

      Tôi thường tùy thuận các chúng sanh,

      Đến tận hết thảy kiếp vị lai,

      Luôn tu hạnh Phổ Hiền rộng lớn,

      Viên mãn đại Bồ Đề vô thượng)

 

      Sau khi chính mình đã thành tựu, nhất định phải tận tâm tận lực giúp đỡ người khác, lợi ích hết thảy chúng sanh. Giúp đỡ người khác chính là công đức chân chánh, là phước báo chân chánh. Đem tiền của giúp đỡ người khác, của cải chúng ta cuồn cuộn kéo đến, vĩnh viễn dùng chẳng hết. Bố thí pháp được thông minh trí huệ, bố thí Vô Úy được mạnh khỏe trường thọ. Tu nhân nhất định phải được quả báo. Thiện có thiện báo, ác có ác báo. Thế gian chỉ là một cuộc nhân quả tuần hoàn lớn lao mà thôi.

Tu phước đức chẳng bằng tu công đức, trong công đức tự nhiên có phước đức, trong phước đức chưa chắc có công đức. Chỉ tu quả báo phước đức, đa số thường rất ngu si, có phước nhưng chẳng có trí huệ chân chánh. Hưởng hết phước rồi, vì kẻ đó không có trí huệ chân chánh, làm việc gì cũng bị thiếu sót, cũng lầm lỗi, chẳng khỏi bị luân hồi, chẳng khỏi đọa tam đồ, đó là chuyện rất đáng sợ. Những nơi lạc hậu trong thế gian này, đời sống vật chất khổ sở phi thường, như nhiều nơi ở Phi Châu không có cơm ăn, không có áo mặc, thật đáng cho người ta thương xót bi cảm. Chúng ta có nhiều tiền dư hãy lấy ra chút ít giúp đỡ họ. Trong hết thảy công đức, công đức dạy dỗ rất lớn. Chẳng hạn như Thích Ca Mâu Ni Phật và Khổng Tử, không ai chẳng tôn kính.

 

1.10.4. Nguyện chẳng lìa

      Chánh kinh:

      Sở hữu dữ ngã đồng hạnh giả,

      Ư nhất thiết xứ đồng tập hội,

      Thân, khẩu, ý nghiệp giai đồng đẳng,

      Nhất thiết hạnh nguyện đồng tu học.

      Sở hữu ích ngã thiện tri thức,

      Vị ngã hiển thị Phổ Hiền hạnh,

      Thường nguyện dữ ngã đồng tập hội,

      Ư ngã thường sanh hoan hỷ tâm.

      (Tất cả ai đồng hạnh với tôi,

      Trong hết thảy nơi cùng nhóm họp,

      Nghiệp thân, miệng, ý đều giống nhau,

      Cùng chung tu học mọi hạnh nguyện.

      Mọi thiện tri thức lợi ích tôi,

      Vì tôi chỉ bày hạnh Phổ Hiền,

      Thường nguyện cùng tôi chung nhóm họp,

      Thường sanh tâm hoan hỷ với tôi)

 

      Chẳng lìa chư Phật, chẳng lìa thiện tri thức. Thiện tri thức là những người cùng tu hành với mình. Đại chúng cùng tu một nơi, nhất định phải nhờ vào Lục Hòa Kính. Lục Hòa Kính:

1) Kiến hòa đồng giải:

Kiến giải tương đồng. Cùng ưa thích một bộ kinh, cùng thích một bản chú giải, cùng thích một phương pháp tu hành như nhau; chí đồng đạo hợp. Đó là cơ sở để cùng chung tu hành.

2) Giới hòa đồng tu:

Tuân thủ phép tắc, cùng nhau tuân thủ những quy định, quy củ đã đặt ra.

3) Thân hòa đồng trụ:

Cùng sống chung một đạo tràng, cùng nghỉ ngủ một nơi, sửa đổi những tập quán xấu; cùng nhau nghiên cứu thảo luận những vấn đề đã học.

4) Khẩu hòa vô tránh:

Mọi người cùng tu dưỡng tinh thần nhường nhịn, chẳng cần phải tranh chấp. Có ý kiến bất đồng bèn từ từ giải quyết.

5) Ý hòa đồng duyệt:

Những người ở chung một chỗ, mỗi một cá nhân pháp hỷ sung mãn, nhân vì học vấn, đức hạnh ngày càng tiến bộ, tập khí phiền não ngày một giảm thiểu.

6) Lợi hòa đồng quân:

Bình đẳng thọ hưởng cuộc sống vật chất, của cải, lợi ích đều chia đều.

Gia đình tu Lục Hòa Kính nhất định hưng vượng. Công ty, cửa tiệm, tiệm buôn, những nhà chế tạo nổi tiếng nếu đối xử với nhân viên bằng Lục Hòa Kính thì sự nghiệp nhất định phát triển, khuếch trương.

 

1.10.5. Nguyện cúng dường

      Chánh kinh:

      Nguyện thường diện kiến chư Như Lai,

      Cập chư Phật tử chúng vi nhiễu,

      Ư bỉ giai hưng quảng đại cúng,

      Tận vị lai kiếp vô bì yểm,

      Nguyện trì chư Phật vi diệu pháp,

Quang hiển nhất thiết Bồ Tát hạnh,

Cứu cánh thanh tịnh Phổ Hiền đạo,

Tận vị lai kiếp thường tu tập.

(Nguyện thường gặp gỡ các Như Lai,

Cùng chúng Phật tử vây quanh Phật,

Thảy đều khởi cúng dường rộng lớn (9),

Hết kiếp vị lai chẳng chán mệt.

Nguyện trì diệu pháp của chư Phật,

Rạng rỡ hết thảy hạnh Bồ Tát,

Rốt ráo thanh tịnh đạo Phổ Hiền,

Hết vị lai kiếp thường tu tập)

 

“Nguyện thường gặp gỡ các Như Lai, cùng chúng Phật tử vây quanh Phật”: Phật tử là Bồ Tát. Chư Phật, Bồ Tát thời thời khắc khắc hiện diện trước chúng ta, vây quanh chúng ta. Quý vị phải biết như thế! Biết rồi, phải gieo phước.

“Thảy đều khởi cúng dường rộng lớn”: Câu này là trọng tâm của bài kệ. Rộng tu cúng dường là gieo phước. Trong các cách cúng dường, tối khẩn yếu là pháp cúng dường. Hết thảy các sự cúng dường bằng tài vật chẳng bằng được pháp cúng dường. Trong các pháp cúng dường, trọng yếu nhất là cúng dường bằng cách tu hành. Thấy người lành, bắt chước họ học pháp lành, thấy kẻ ác bèn tự cảnh tỉnh, đó gọi là cúng dường, là chân chánh cúng dường. Trong cảnh giới tu tâm thanh tịnh, trong cảnh giới đoạn ác tu thiện.

 Thật ra, toàn bộ pháp tu hành nói gọn lại chỉ có tám chữ: thành kính, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi. Đối với người lành, chân thành cung kính, đối với người ác cũng chân thành cung kính. Nếu cung kính người thiện, chán ghét người ác thì quý vị chẳng cúng dường, chẳng tu hành!

“Hết kiếp vị lai chẳng chán mệt”: Tâm lớn lao, không chán mệt. Tâm không giới hạn là lớn. Giới hạn là phân biệt; chẳng phân biệt tâm bèn lớn. Tận hư không giới, khắp pháp giới đều là nhất tâm. Phân biệt, chấp trước, vọng tưởng khiến cái tâm rộng lớn của chúng ta biến thành nhỏ hẹp. Hai người ở cùng một chỗ chẳng chịu đựng nổi nhau là vì tự vạch một giới hạn giữa họ. Bỏ cái giới hạn đó đi thì tận hư không trọn pháp giới vốn chỉ là chính ta đó thôi. Kinh dạy: “Nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ là tâm tạo”. Tận hư không trọn pháp giới, y báo, chánh báo trang nghiêm, chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến. Tâm tánh chính là bản lai diện mục của chính mình, là bản thể tự ta sẵn có, bởi thế tột cùng kiếp vị lai chẳng hề chán mệt.

“Nguyện trì diệu pháp của chư Phật”: Tình và vô tình đều là chư Phật. Mỗi một đức Phật đều thị hiện vi diệu pháp. Đèn cầy tỏa sáng, dần dần cháy hết từng chút một, đó là vi diệu pháp của nó. Bàn, ghế sắp xếp ở đây hết sức tề chỉnh để quý vị thư thả ngồi nghe kinh, đó là vi diệu pháp của nó. Hết thảy chúng sanh ngồi ở đây, tỏ vẻ mừng giận, buồn vui sai khác, đấy là vi diệu pháp của họ. Làm thế nào dùng pháp môn vi diệu của chư Phật để mở bày vô lượng trí huệ của chúng ta, biến thành thiền định rất sâu của chúng ta, đấy là “nguyện trì”. Trong lúc lục căn tiếp xúc với cảnh giới lục trần, thành tựu vô lượng trí huệ, thành tựu thiền định rất sâu.

“Quang hiển nhất thiết Bồ Tát hạnh (rạng rỡ hết thảy hạnh Bồ Tát): Quang là trí quang Bát Nhã. Hiển là sáng rỡ thấu lộ ra ngoài, chẳng ẩn giấu. Nói cách khác là khởi tác dụng. Bồ Tát hạnh: Thân, ngữ, ý, hành vi ba nghiệp đều là giác chẳng mê.

“Rốt ráo thanh tịnh đạo Phổ Hiền”: Đạo Phổ Hiền rốt ráo là công đức thù thắng. Phổ Hiền có các địa vị: Vị tiền Phổ Hiền, đương vị Phổ Hiền, và đạo hậu Phổ Hiền. Ở đây là đương vị Phổ Hiền, tức Đẳng Giác Bồ Tát. Nhà Phật tu học chỉ là tu cái tâm thanh tịnh đó thôi. Tâm thanh tịnh là nhất tâm bất loạn, tâm thanh tịnh là Thiền. Tâm thanh tịnh, thân bèn thanh tịnh, thân thanh tịnh thì cảnh giới bên ngoài không gì chẳng thanh tịnh, đó là tịnh độ. Kinh dạy: “Tâm tịnh thì cõi nước tịnh”“cảnh theo tâm chuyển” chẳng sai! Muốn tâm được thanh tịnh thì ngoài chí thành ra còn phải bình đẳng; chẳng bình đẳng nhất định chẳng thể thanh tịnh được. Chẳng phân biệt, chấp trước là bình đẳng. Muốn tu tâm bình đẳng thì phải tu tâm từ bi; tâm từ bi dùng để khảo nghiệm sự thanh tịnh bình đẳng của quý vị. Quý vị có từ bi thì mới có thể tiếp xúc hết thảy mọi người, sự vật. Trong hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật, tu tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, dùng mọi sự để luyện tâm; nếu thật sự thanh tịnh, công phu thành tựu thì gọi là Phổ Hiền Bồ Tát. Lại bỏ sạch một niệm sanh tướng vô minh đi thì gọi là “rốt ráo thanh tịnh”. Đấy là mục tiêu tu hành cùng cực của chúng ta, đó cũng là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

“Hết vị lai kiếp thường tu tập”: Câu này nói sau cùng, ý nghĩa rất rộng sâu. Đã đạt đến rốt ráo, rốt ráo là viên mãn. Đã viên mãn rồi sao lại phải thường tu tập? Viên mãn rồi lại phải phát tâm thường tu tập; đó gọi là đại từ đại bi, làm gương cho người khác, giúp người chưa viên mãn; đó gọi là đạo hậu Phổ Hiền.

Đã thành Phật, trở lại địa vị Bồ Tát thì gọi là “thả chiếc bè từ”, cũng có những vị Bồ Tát hiện diện quanh các vị. Bồ Tát không có tướng nhất định, tùy loại hóa thân. Quý vị dùng tâm thanh tịnh nhìn hết thảy chúng sanh thì mỗi một chúng sanh đều như Phật, Bồ Tát. Bởi vậy, Phật, Bồ Tát ở quanh chúng ta, Phật, Bồ Tát vốn chẳng lìa chúng ta, nhưng chính chúng ta chẳng nhận biết. Chư Phật, Bồ Tát thị hiện, tu học Giác - Chánh - Tịnh.

Lược Giảng Giáo Nghĩa Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, phần 3 hết

 

 

 

 

Giải Thích:

(1) Bảy báu thượng diệu: tức là vàng, bạc, san hô (một thứ báu màu hồng, lấy từ biển), xa cừ (một thứ báu giống như bạch ngọc, có nhiều vằn, giống như căm xe tỏa ra), mã não (một thứ báu màu hồng nhạt, hình dạng giống như óc con ngựa), xích châu (ngọc trai màu đỏ), ma-ni (còn dịch là Như Ý Châu, một loại ngọc quý sáng chói, trong suốt, tương truyền có tác dụng lắng trong nước đục, lấy từ Long Cung hoặc từ khối mỡ trên đầu cá Ma Kiệt. Theo truyền thuyết, Như Ý Châu có thể mưa ra các thứ báu tùy lòng mong muốn. Ma Kiệt là một loại cá rất lớn, có con dài đến mười bảy do-tuần). Nói thất bảo cũng chỉ là ước lệ, nêu lên những thứ được coi là quý nhất, chứ các bảo vật dùng để cúng dường không chỉ hạn lượng trong mấy món này.

(2) Nhìn vào sách mà niệm là Đọc, không nhìn vào sách mà niệm là Tụng.

(3) Vô Gián có nghĩa là không dừng nghỉ, không gián đoạn. Ngũ Vô Gián tức là A Tỳ Địa Ngục, một loại địa ngục dành cho người phạm tội cực nặng. Gọi là năm thứ vô gián vì:

      1) Thời vô gián: Chúng sanh trong địa ngục ấy suốt ngày suốt đêm chịu đựng hình phạt trải qua không biết bao nhiêu kiếp số, không lúc nào tạm ngừng.

      2) Hình vô gián: Hình tức là thân hình. Trong địa ngục này bốn phía có tường bằng sắt vây quanh, dài một vạn tám ngàn dặm, cao một ngàn dặm, khoảng giữa lửa bốc cháy hừng hực, chỉ có một cái giường sắt, kích thước mỗi bề một vạn dặm, một người thọ phạt thấy thân mình nằm chật giường ấy, ngàn vạn người thọ tội ai nấy thấy thân mình đầy chật giường ấy, không khác gì nhau.

      3) Thọ khổ vô gián: trong địa ngục, các tên gọi hình phạt, các thứ khí cụ để trừng phạt, như núi đao, rừng gươm, vạch than, chảo dầu mỗi thứ mình đều phải lần lượt nếm mùi, liên tiếp không gián đoạn.

4) Thú quả vô gián (“thú” có nghĩa là tiến đến, “thú quả” nghĩa là lúc sống tạo nghiệp gì, lúc chết sẽ chịu quả đó). Bất luận nam nữ già trẻ, giàu nghèo, sang hèn, cũng chẳng cần biết là thiên thần hay địa quỷ, hễ vào địa ngục đều phải chịu mọi thứ khổ báo.

5) Mạng vô gián: tội nhân sa vào địa ngục này, phải thọ tội cả trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp, mỗi một ngày sống đi chết lại vạn lần.

(4) Cưu Bàn Trà, dịch là Thủ Cung Thần (thần giữ cung điện), hình dáng xấu ác. Tỳ Xá Xà là quỷ ăn tinh khí, chuyên hút lấy tinh khí nơi thân người, là một trong những loài ngạ quỷ. Bộ Đa (dịch là Đại Thân hay Tự Sanh), cũng là một loài quỷ thích ăn thịt, uống máu người, là loại quỷ độc ác nhất.

(5) Phụ tướng: phụ là giúp đỡ, hộ trì, Phụ Tướng là các quan thân cận giúp nhà vua cai trị, xử lý sự vụ triều chánh.

(6) Bồ Đề Đạo Tràng: nơi đức Phật thành Phật, như đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc cây Tất Bát La (Pipala) thiền định chứng đạo, nên cây ấy có tên là cây Bồ Đề.

(7) Kệ gọi đủ là kệ tụng. Tụng có nghĩa là ca ngợi, xưng tụng. Có tám loại kệ tụng:

      1) Cô Khởi: bài kệ độc lập, không nhắc lại ý nghĩa đã giảng trong kinh văn.

2) Trùng Tụng: nhắc lại những ý nghĩa đã giảng trong phần trường hàng.

3) Phức Tụng: Trước khi giảng, hoặc khi giảng khá sâu rồi, có những thính chúng chưa thể hiểu rõ, bèn dùng kệ tụng nói nghĩa hơi cạn một chút để người nghe lãnh hội.

4) Quảng Tụng: Dùng kệ tụng để giảng rộng thêm ý nghĩa đã nói trong phần Trường Hàng.

5) Lược Tụng: Nhắc sơ lược lại những ý đã giảng thật chi tiết trong phần Trường Hàng.

6) Kết Tụng: Dùng kệ tụng kết thúc lại một đoạn kinh văn để người nghe dễ ghi nhớ.

7) Siêu Tụng: phần kệ tụng được nói trước khi giảng.

      8) Truy Tụng: phần kệ tụng tiếp theo ngay phần Trường Hàng. Ý nghĩa có thể liên quan hay không liên quan đến phần Trường Hàng. Nếu nói rộng, các loại tụng kể trên ngoại trừ Cô Khởi và Siêu Tụng đều là Truy Tụng cả.

(8) Sát trần: bụi trong một cõi Phật, tức là đem một cõi Phật nghiền nát thành bụi, số bụi đó gọi là “sát trần”.

(9) Cúng dường rộng lớn: Cúng dường rộng lớn vì gồm đủ sáu điều:

      1) Tâm lớn: Người cúng dường chư Phật, phát nguyện tâm cúng dường chư Phật rất lớn, thường cúng dường chẳng gián đoạn, tâm vĩnh viễn chẳng mệt mỏi, chán nản.

      2) Vật phẩm cúng dường lớn: Tài cúng dường, pháp cúng dường, hết thảy đều rất hoàn bị.

      3) Phước điền lớn

      4) Nhiếp thủ công đức thù thắng của mười nguyện vương Phổ Hiền rất to lớn.

      5) Nhân lớn: Nhân tu hành của Bồ Tát thanh tịnh vì cúng dường để tu Phật đạo. Bởi thế kết thành quả Bồ Đề cũng rất thanh tịnh.

      6) Thời lớn: Luôn cúng dường chẳng ngừng nghỉ, đến tận vị lai kiếp không ngừng nghỉ.