Kính chào quý vị, trang này cập nhật những bài thuyết Pháp của Tâm Tịnh.  Hiện giờ Tịnh đang bận nhiều chuyện chưa học Phật pháp được nhiều.  Những bài thuyết Pháp của Tịnh có những điều mới và có những điều không ai biết.  Khi nào có duyên lành Tịnh sẽ đăng bài thuyết Pháp của Tịnh lên.  Vì mới học để thuyết Pháp nên những bài thuyết Pháp của Tịnh sẽ có sai sót và khuyết điểm.  Tịnh mong các bậc Thiện Tri Thức khắp nơi vui lòng chỉ dẫn giùm Tịnh.  Do đó những bài Pháp mà Tịnh cập nhật sẽ được hoàn chỉnh hơn.  Tịnh sẽ chỉnh thêm những bài thuyết Pháp này và cập nhật những từ ngữ giải thích sau.  Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. 



           Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, lúc ban đầu khi quý vị có ý muốn học Phật pháp thì quý vị phải cố gắng học những gì quý vị thích cho đến cùng. Lúc đầu quý vị nên học những gì căn bản của Phật pháp trước. Những bài giảng và bài viết về Phật pháp căn bản thì rất dễ hiểu và có nhiều thí dụ để quý vị dễ biết. Quý vị có thể đến trang Phật pháp căn bản của trang PHÁP ÂM để nghe những Pháp âm rất hay, rất ý nghĩa và rất dễ hiểu. Quý vị cũng có thể xem những bài Kinh căn bản cũng được. Có một bài Kinh mà Tịnh rất thích và xem vài lần lúc ban đầu Tịnh học Phật pháp. Đó là bài Kinh Pháp Cú của Phật giáo Tiểu thừa. Tuy là Tiểu thừa nhưng bài Kinh này có vài chỗ ứng dụng cho Phật giáo Đại thừa và có vài chỗ tóm gọn lại những điều hay của Phật giáo. Quý vị có thể vào trang LỜI ĐỨC PHẬT DẠY VÀ KINH ĐIỂN để xem Kinh Pháp Cú với hình ảnh minh họa mà Tịnh đã đăng. Lúc ban đầu Tịnh học Phật pháp và xem Kinh Pháp Cú bản dịch của HT Thích Minh Châu thì không có hình ảnh nhưng Tịnh rất thích đọc. Những vần thơ mộc mạc, dễ hiểu, có vần điệu, trong sáng và rất có ý nghĩa nên Tịnh có thêm nhiều trí-huệ. Lúc ban đầu quý vị nên đặt ra mục tiêu là dành khoảng nửa tiếng trong một ngày để đọc Kinh, đọc bài viết, nghe Kinh hay nghe giảng. Sau đó quý vị có thể tăng thời gian này lên là 45 phút, môt tiếng hay hơn nữa. Khi học Phật pháp quý vị phải nên suy gẫm hay tư duy những gì đã đọc hay đã học. Nhất là những gì Đức PHẬT đã giảng giải trong Kinh Điển. Quý vị cũng phải ứng-dụng và thực-hành những gì quý vị đã đọc hay học vào trong đời sống thường ngày. Bằng cách này quý vị mới hiểu nhiều và dễ nhớ những điều hay của Phật giáo. Vậy là quý vị đã ứng dụng phương pháp Văn, Tư, Tu khi học Phật giáo một cách đúng đắn. Văn là nghe, tư là tư duy hay suy gẫm những gì đã nghe hay đã học. Tu là tu-hành hay ứng-dụng và thực-hành những gì quý vị đã tư duy và suy gẫm khi học Phật pháp vào trong đời sống hàng ngày của quý vị. Nếu học theo cách này thì kiến thức Phật giáo và trí-huệ của quý vị sẽ ngày càng tăng lên mà quý vị có thể nhận thấy. Quý vị có thể dễ dàng dành ra nửa tiếng rãnh rỗi trong một ngày bằng cách giảm giờ đi chơi, tán gẫu, ngủ trưa, ngồi không chẳng biết làm gì v.v...  Quý vị nên nhớ là tất cả các oan gia, trái chủ (gọi đầy đủ hơn là oan gia, trái chủ, cô hồn, hữu tình) mà đa số mọi người đều có từ những kiếp trước theo báo thù quý vị thì điều trước tiên và căn bản nhất là họ ngăn không cho quý vị xem hay nghe được Phật pháp. Vì khi quý vị biết Phật pháp thì quý vị biết điều nào thiện để làm điều nào ác để tránh. Khác ngược với sự mong mỏi của họ là quý vị đừng làm điều thiện và quý vị làm điều nào ác mà không tự biết. Do đó theo luật Nhân Quả quý vị gặp điều lành thì ít mà bị điều xui thì nhiều. Quý vị nào tu theo pháp môn Niệm-Phật được Vãng-sanh thì họ không thể nào báo thù được. Đó là điều họ tìm cách ngăn cản nhiều nhất vì họ không thể nào báo thù được quý vị khi họ không ra khỏi vòng luân hồi sanh tử như quý vị. Những điều khác họ có thể báo thù quý vị là gặp chuyện xui xẻo, tai nạn, tử vong, bệnh tật, gia đình bất hòa, kinh tế suy sụp, tinh thần rối loạn, ăn chơi, nghiện ngập, say sưa v.v... Những điều này quý vị có thể hóa giải và tránh khỏi được khi quý vị biết được Phật giáo.  Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. 

   


         Nam-mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni PHẬT,khi quý vị học Phật pháp thì quý vị biết thế nào là tu và hành.  Tu và Hành là tên cũ của trang Phật giáo này (www.TuVaHanh.com).  Trước đây Tịnh có giảng giải Phật pháp cho một số quý vị ở một số trang khác nghe.  Tịnh giảng giải nhiều lắm, phân tách rành rẽ lắm nhưng mà số người nghe và làm theo thì lại rất ít.  Có lẽ họ là ngoại đạo, có lẽ họ chưa học và hành Phật pháp theo kiểu Văn, Tư, Tu;  có lẽ họ chưa có ăn chay nên bị những oan gia, trái chủ của họ theo cản trở hay là họ thấy làm theo những điều tốt của chư Phật, của chư Bồ Tát thì quá khó và sửa chữa những điều xấu mà đức Phật khuyên nên bỏ trong Kinh điển thì quá khó.  Những ai không chịu làm những điều tốt và không chịu sửa chữa những điều xấu thì đều là sai lầm và đang bị sức ma sai sử.  Những oan gia, trái chủ của họ hài lòng và trả thù họ một cách không khó khăn.  Tịnh thấy biết như vậy nên Tịnh muốn nhắc nhở và thức tỉnh những người vào trang Phật giáo này cùng những người mà Tịnh quen và cho họ biết trang Phật giáo này bằng cách đặt tên trang này là Tu và Hành.  Vì sao gọi là tu và hành?  Tu là sửa chữa những thói hư tật xấu đã có sẵn, hành là làm theo những điều tốt của chư Phật và chư Bồ-Tát mà đức Phật đã dạy trong Kinh điển.  Nếu không hành được hay làm được những điều quá cao siêu của chư Phật và chư Bồ Tát thì quý vị nên làm theo hay bắt chước theo những người tu-hành khác.  Nếu không bắt chước được những người tu-hành cao siêu thì quý vị nên bắt chước theo những người tu-hành bình thường.  Nếu không bắt chước được những người tu-hành đã lâu thì quý vị nên bắt chước theo những người mới tu-hành.  Người ta cũng là người, mình cũng là người nên có thể bắt chước được.  Nếu có những điều quá khó không làm được thì quý vị nên hỏi người đó.  Nếu không gặp những người đó thì quý vị nên chịu khó đọc Kinh điển, tư duyứng dụng theo những gì đã học theo cách Văn, Tư, Tu.  Nếu đã đọc Kinh điển mà đức Phật đã giảng giải, thí dụ, phân tách, dẫn chứng Nhân-Quả quá dễ hiểu, không có gì thiếu cũng không có gì thừa thì những điều khó làm theo sẽ trở thành những điều dễ làm theo;  những điều khó sửa chữa sẽ trở thành những điều dễ sữa chữa.  Nếu quý vị không sửa chữa được hay không làm theo được thì đó là do quý vị không biết phân tách và không biết suy nghĩ về những những điều rất đáng sửa chữa và rất đáng làm theo vậy.  Nam-mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. 



        Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, kính chào quý vị, Tịnh có bài Pháp sơ lược về ma để quý vị biết thêm.  Do đó nếu quý vị nào sợ ma thì bớt sợ và biết cách ứng phó.  Tịnh nêu ra hai thí dụ ở Kinh Pháp Cú (Kinh Lời Vàng) ở phẩm 1 Phẩm Song Yếu cho quý vị biết.  Tịnh cũng giảng sơ những câu này cho quý vị biết.  Kệ thứ 7 có nói: 

        7. Ai sống nhìn tịnh tướng, là không biết thân này là giả tưởng thật rồi dùng nhiều thời gian tìm kiếm hạnh phúc cho thân giả tạm.
        Không hộ trì các căn, các căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (là giả) để tự do tiếp xúc với 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng là giả) quá nhiều để tạo ra 6 thức (cái biết của mắt, cái biết của tai, cái biết của mũi, cái biết của lưỡi, cái biết của thân và cái biết của ý tất cả đều cũng là giả) để tạo những nghiệp lành hay dữ đều là những nghiệp dẫn đi trong vòng luân hồi.  Những người không biết tu hành nên không biết hộ trì các căn nên tạo ra nhiều phần nghiệp xấu hơn.

        Ăn uống thiếu tiết độ, là ham ăn ngon, ăn quá no, ăn không đúng giờ giấc.  Uống thì ham uống đồ ngon, rượu và bia. 
        Biếng nhác, chẳng tinh cần.  Là lười biếng, không cố gắng tu hành.  Không biết tu, không chịu tu, không chịu sửa đổi và làm theo lời Đức PHẬT dạy.  Còn những người tu hành là giãi đãi, không tinh tấn tu hành, phá giới hay còn gọi là phóng dật và phá hạnh. 
        Ma uy hiếp kẻ ấy, là ma hay nhiều ma có nhiều cơ hội để trả thù những nghiệp đã vay ở kiếp trước, những kiếp trước hay kiếp này, ma có nhiều cách để trả thù người này như gió thổi mạnh làm cây yếu lung lay và có thể gãy.
        Như cây yếu trước gió.  (quý vị xem hình 7 để hiểu biết thêm).   

        Ngược lại kệ thứ 8 có nói: 

        8. Ai sống quán bất tịnh, là một phần trong bốn phần quán của Kinh Tứ Niệm Xứ:  Quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã vá quán thọ thị khổ. 
        Khéo hộ trì các căn,
        Ăn uống có tiết độ,
        Có lòng tin, tinh cần,
        Ma không uy hiếp được, là ma hay các loài ma không có cơ hội hay không biết cách nào để uy hiếp được như gió thổi vào núi đá vẫn trơ trơ.  Không phải chỉ có Tăng sĩ mà cư sĩ nếu biết cách cũng có thể hàng phục được ma. 
        Như núi đá, trước gió.
  (quý vị xem hình 8 để hiểu biết thêm).   

  Hình 7 > < Hình 8 

 

        Ma đều do người hay động vật chết qua đời mà thành.  Người dữ chết thành quỷ bị đưa thẳng xuống địa ngục liền không để ở nhân gian để phá phách thế gian.  Họ không trải qua thời kỳ 'Thân trung ấm' là 45 ngày.  Người hiền chết thành ma.  Họ trải qua thời kỳ 'Thân trung ấm' rồi sau đó mới đi đầu thai.  Do đó mới có hiện tượng báo mộng hay những bóng ma về thăm người nhà sau khi qua đời.  Người quá hiền và biết cách tu hành chết liền được đưa thẳng lên Thiên cung hay Thiên đàng để hưởng phước.  Họ không trải qua thời kỳ 'Thân trung ấm'.  Ma có những loại:  Ma người, ma thú (ở rừng), ma thú cưng nuôi trong nhà, ma gia súc, ma gia cầm, ma côn trùng v.v...  Nhà nào có thờ Phật và Bồ Tát thì không có ma người ở trong nhà.  Nhưng không có nghĩa là ở ngoài vườn, sân trước và sân sau không có ma.  Những cây cao, cây to trồng xung quanh nhà đều có quỷ thần cư ngụ.  Để họ ở vườn hay ở cây thì có lợi vì họ giúp đỡ xua đi kẻ xấu và những loài ma khác đến.  Những nhà để trống không có người nào ở khoảng một tuần sẽ có ít nhất một ma người vào cư ngụ.  Quý vị đừng xem phim ma, đọc truyện ma, viết truyện ma hay nghĩ ngợi về ma nhiều mà bị ma theo hay ma nhập vào.  Nếu họ muốn làm quen thì quý vị đừng làm quen.  Quý vị chỉ nói với họ là quý vị chỉ biết họ thôi chứ đừng bao giờ quen, đây là điều rất quan trọng mà quý vị phải tuyệt đối ghi nhớ.  Quý vị nào ở nhà lớn một mình có những điều trở ngại là:  Một là trong hoàn cảnh 'âm thịnh, dương suy'.  Có nghĩa là khí âm thì thịnh vì có thể có nhiều người cõi âm, dương suy là khí dương thì suy vì chỉ có một người cõi dương nên ma có thể lộng hành.  Hai là các phòng có khi bị tối vì tắt điện và bị lạnh vì không có máy sưởi vào mùa đông.  Còn nếu để thường xuyên thì hao điện và hao máy sưởi.  Chỗ lạnh và tối hợp cho người cõi âm.  Ba là có những lúc quý vị làm những chuyện kỳ dị mà nếu có người khác ở gần thấy thì nhắc nhở và ngăn chặn liền.  Có lúc quý vị suy nghĩ và tưởng là tự mình suy nghĩ nhưng thực ra không phải là vậy.  Có ma nào ghét rồi nhắc bên tai quý vị xúi quý vị làm bậy mà không biết.  Trường hợp mộng tinh là một ví dụ.  Chỉ có những người nào có công-phu tu-hành, thường niệm Phật và Bồ Tát Quán Thế Âm, biết rõ về tâm và biết điều tâm khiển ý mới không bị ma xúi.  Nếu quý vị thích thì nên bán nhà đó rồi mua căn nhà nào nhỏ hơn vừa đủ để ở.  Nếu quý vị không muốn gặp ma thì đừng tỏ ra sợ hãi quá (như gặp họ thì đến nỗi xỉu) hay là tỏ ra can đảm quá thách thức và xem họ chẳng ra gì.  Giữa thế giới loài người đang sinh sống cũng có những loài ma đi qua lại vào ban ngày và ban đêm mà người không biết.  Quý vị nếu có đeo tượng Phật hay Bồ Tát thì họ không dám đến gần hay nhập vào.  Những điều Tịnh vừa nêu cũng đủ cho quý vị biết sơ về ma và bớt sợ ma.  Nếu quý vị muốn biết hoàn cảnh, tên tuổi, v.v... của loài ma ở quanh vườn thì nên dùng phép cầu hồn hay cầu cơ thì sẽ biết được. 

        Chuyện có ma hay có quỷ ở đời là thật 100% chứ không phải là hoang đường hay bịa đặt.  Loài người có mắt thịt (nhục nhãn) chỉ có thể thấy 2 Pháp giới là cõi người và cõi thú trong 10 Pháp giới.  Còn các cõi khác thì loài người không thấy hay không cảm thấy được.  Trước đây Tịnh có mua một căn nhà rộng khoảng 2,000 sq feet bao gồm basement và ở một mình khoảng một năm.  Tịnh cũng ở một mình coi nhà cho em trai khoảng nửa năm trong căn nhà rộng khoảng 6,000 sq feet bao gồm basement.  Tịnh bị 'ma' đè một lần (quỷ Cưu bàn trà mà Đức PHẬT có thuyết trong Kinh điển).  Hôm đó Tịnh làm việc về mệt lắm nhưng mà không buồn ngủ.  Tịnh cảm thấy sự 'có mặt' của y rõ ràng nhưng mà không muốn ngủ, y phà hơi lạnh và âm khí làm Tịnh cảm thấy buồn cười.  Tịnh mặc kệ, khinh thường y, tắt đèn và ngả lưng xuống giường nghỉ.  Y tiếp tục phà âm khí làm cho Tịnh mệt mỏi thiêm thiếp đi khoảng 3, 4 phút thì y tấn công liền !  Y to bằng cái mền, đen thùi chỉ có hai con mắt trắng dã to bằng hai trái táo.  Còn thân thì lạnh khủng hoảng đầy dẫy âm khí vừa đè vừa truyền hết hơi lạnh sang Tịnh.  Hai bên 'vật lộn' chừng 1 phút Tịnh biết không xong liền dùng phương tiện đánh bật y ra !  Sau đó Tịnh trở dậy mở đèn phòng lên, bắt ấn rồi nghỉ tiếp cho tới sáng.  Tịnh gặp ma, nói chuyện trực tiếp và gián tiếp với họ, sinh hoạt với họ khi ở hai căn nhà này.  Tịnh nêu ra những điều này cho các quý vị khác biết luôn.  Có quý vị nào dám ở một mình và làm những gì với ma mà Tịnh đã kể không?  Chắc là không rồi.  Qua thời gian ở hai căn nhà này Tịnh biết thêm rất nhiều điều hay.  Tịnh biết có 2 điều chủ yếu:  Một là sống ở đời mà không biết tu-hành thì rất sai lầm và đáng thương.  Hai là có nhiều điều Đức PHẬT đã giảng trong Kinh điển quả thật là đúng chứ tuyệt đối chẳng phải là giả.  Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. 

  


        Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Tịnh có một vài điều để nhắc nhở quý vị để quý vị học hỏi và sửa chữa.  Tịnh thấy đa số quý vị đều có những lỗi lầm này. 

          1.  Quý vị nên tu-hành hay đọc Kinh điển rồi làm theo những lời đức Phật dạy càng sớm càng tốt.  Quý vị đừng chần chờ và hứa hẹn này nọ vì quý vị không biết qua đời vào lúc nào.  Khi việc đó xảy ra thì quý vị sẽ hoàn toàn khó kiếm thân người lại được để mà tu-hành.  Trong Kinh Pháp Cú Đức PHẬT có dạy là: 

        "Khó thay được làm người
        Khó thay được sống còn
        Khó thay nghe diệu Pháp
        Khó thay (có một đức) Phật ra đời." (ở một cõi nào đó để thuyết Pháp cho các cõi Nhân và Thiên).

        Cũng trong kinh Pháp Cú, Đức PHẬT cũng có dạy: 

        "Thân người khó được
        Phật Pháp khó nghe
        Thiện tri thức khó gặp
        Đạo tràng tốt khó tìm." 

        Được sanh ra làm người khó như thế nào?  Đức PHẬT đã ví dụ là:  "Nếu có một con rùa mù cứ 100 năm ngoi đầu lên mặt nước 1 lần, có một khúc gỗ nhỏ có một cái lỗ nhỏ chỉ đủ cho đầu con rùa mù chui lọt cứ 100 năm trôi từ đông sang tây.  Rồi sau đó 100 năm trôi trở lại từ tây sang đông.  Chừng nào đầu rùa mù chui lọt vào lỗ của khúc gỗ đó thì một người đã qua đời mới có cơ hội sanh trở lại làm người cũng khó như vậy."  Quý vị thấy có khó không?  Tịnh thấy thật khó vô cùng, hầu như không thể nào có thể sanh trở lại làm người nữa.  Biển thì rộng mênh mông không thấy bờ bến, 100 năm 1 lần thì quá lâu, rùa thì lại mù và không có ý tìm khúc gỗ, sóng to gió dập đưa đẩy khúc gỗ đi nhiều hướng thì làm sao mà đầu rùa chui lọt cho được.  Quý vị phải nhớ và lưu ý cho kỹ điểm này để cố gắng tu-hành khi được may mắn làm người.  Đã rất may mắn có được thân người, đã xem và nghe được Phật pháp ở trang Phật giáo này, đã gặp Thiện-tri-thức là Tịnh và quý vị cũng có thể lập một đạo tràng (là nơi để thường tụng Kinh, niệm Phật, ngồi Thiền v.v...) tại gia để tu-hành không khó (nếu có điều kiện thì quý vị có thể đi đến chùa ít nhất vào mỗi Chủ nhật để tụng Kinh), quý vị còn chần chờ gì nữa? 

        Cảnh giới hay Pháp giới của loài người là thuận tiện nhất cho việc tu-hành so với 5 Pháp giới của các chúng sanh khác còn nằm trong vòng lục đạo luân hồi. 

        2.  Quý vị phải bỏ đi chấp ngã.  Vì ngã là giả và có thân này là giả và tâm này là giả.  Vì sao gọi là thân giả?  Vì thân này dễ bệnh hoạn, sau 25 tuổi thì hết phát triển và từ từ xuống sức và già yếu, khi qua đời thì ai cũng hồn lìa khỏi xác bỏ thân này lại không mang theo được.  Thân có sanh ra rồi có diệt, thân tuân theo định luật vô thường và không tồn tại vĩnh viễn thì làm sao gọi là thân thiệt.  Chỉ có Pháp thân của mỗi người mới là thân thiệt vì thân đó tồn tại vĩnh viễn.  Vì sao gọi là tâm giả?  Vì những ai khi còn nằm trong bào thai, khi các căn đã đầy đủ và khi tâm hay hồn đã nhập vào bào thai để thọ thai thì có biết, có cảm giác (nhưng chưa có suy nghĩ, tư duy, phân biệt, chấp trước (sự khác nhau giữa ta và người khác) và ghi nhớ gì cả).  Khi mới sanh ra thì cũng có biết, có nhìn, có nghe nhưng chưa có khái niệm đời là gì cả.  Tâm trong bào thai và tâm khi mới sanh ra là tâm thiệt vì chưa biết gì cả.  Sau này khi đã biết nhìn, biết nghe, biết ngửi, biết nếm, biết va chạm, biết suy nghĩ (6 căn tiếp xúc 6 trần tạo ra 6 thức) thì có phân biệt này nọ, chấp trước và ghi nhớ.  Tâm đã học hỏi và ghi nhớ điều này điều nọ không còn trong sạch như ban đầu là tâm giả.  Không phải nói tâm giả hoàn toàn là giả vì nếu không có tâm thiệt ban đầu có nhận biết (chỉ biết thôi chứ chưa suy nghĩ hay khởi lên một ý niệm gì cả) hay tâm thiệt bị ô nhiễm thì làm gì có tâm giả?  Trở lại khái niệm lúc nãy thì:  Tâm thiệt hay tâm thật (còn gọi là tâm Phật, Phật tánh hay Pháp thân.  Vì sao gọi là Pháp thân?  Vì tâm khi đã giác ngộ, biết đâu là thật đâu là giả thì biết tu-hành để giải thoát, biết niệm Phật và ngồi Thiền để định tâm rồi từ từ trở về cội nguồn của tâm thật ban đầu nên Pháp thân có thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.  Tâm này không biết tu-hành hay không chịu tu-hành thì Pháp thân từ từ nhỏ lại và càng xấu.  Tâm này chịu tu-hành và tu-hành giỏi thì Pháp thân càng to và càng đẹp hơn nên cũng gọi là Pháp thân.  Tâm thật là Pháp thân, thân thật cũng là Pháp thân.) là tâm có từ lúc mới nhập vào bào thai để thọ sanh cho đến lúc sanh ra vì chưa biết gì cả hay chưa ô nhiểm gì cả.  Ai cũng có tâm thật hay Phật tánh vì cho dù sanh ở cảnh giới nào thì lúc ban đầu cũng đều có tâm này.  Tâm giả là tâm đã thay đổi hay đã ô nhiễm khác với tâm thật ban đầu từ khi biết phân biệt, suy nghĩ và ghi nhớ.  Rồi chấp tâm này là của ta vì ta khác với mọi người và sanh ra chấp ngã hay có tự ngã.  Tâm giả là giả vì khi qua đời thọ sanh ở cảnh giới khác thì tất cả những gì học hỏi, ghi nhớ, phân biệt, chấp trước từ lúc mới hình thành tâm giả cho đến lúc thọ sanh ở cảnh giới khác đều quên sạch hết chẳng còn ghi nhớ được gì cả.  Tâm giả (không phải hoàn toàn là giả mà do tâm thật bị ô nhiễm rồi chấp là ta.  Như một tấm gương trong sạch khi bị dính bụi thì không còn sạch nữa, khi lau hết bụi thì lại sạch sẽ như xưa (là khi ngồi Thiền hay niệm Phật nhận biết được tánh biết (còn gọi là Phật tánh hay tâm thật) khác xa với sự ô nhiễm)) là giả vì có sanh rồi có diệt, tuân theo định luật vô thường không có sự vĩnh cữu.  Cho dù có học và có nhớ cách mấy đi nữa thì khi qua đời và thọ sanh cũng đều quên hết và không còn nhớ gì cả.  Chấp ngã chỉ làm cho đường tu-hành của quý vị rất khó thành tựu. 

        3.  Quý vị phải bỏ đi sự chấp nam nữ vì sự chấp này cản trở lớn cho việc tu-hành.  Nam nữ khác nhau chỉ ở giọng nói và thân người chứ không có gì khác nhau.  Những ai có chồng có vợ một thời gian cũng đều biết điều này.  Sự chấp này hình thành từ nhỏ từ khi còn là đứa bé trai hay đứa bé gái do tập quán khác nhau.  Đến khi kích thích tố sinh ra ở tuổi dậy thì là sự chấp này nặng nhất.  Vì có khác nhau về giọng nói và tánh tình (do kích thích tố tạo ra và từ tập quán có sẵn từ nhỏ nên có lòng mong muốn về ái tình hay tình yêu) và thân người (nên có lòng mong muốn về dục vọng hay tình dục) nên nam và nữ có lòng mong muốn quen nhau là bạn trai, bạn gái hay cưới nhau để thỏa mãn dục vọng và ái tình.  Quý vị có thể nói chuyện dục vọng và ái tình là chuyện bình thường đó mà, ai mà chẳng có?  Quả là như vậy nhưng vì dục vọng, ái tình dễ gặp, dễ thấy, dễ ganh là người ta có mà mình không có nên quý vị phải gắng khắc phục và tu-hành để chuyển nghiệp.  Vì kiếp trước tạo nghiệp nên kiếp này quý vị phải sanh làm người để trả nghiệp và dễ 'thiếu thốn' về những chuyện đó nên quý vị phải gắng khắc phục và tu-hành để chuyển nghiệp.  Những loài ma hay quỷ muốn theo báo thù quý vị thì họ rất chú trọng làm cho quý vị vướng vào 2 chuyện ái tình và dục vọng này.  Điều đáng ngạc nhiên là họ dễ thỏa mãn vì quý vị rất dễ vướng vào 2 chuyện này.  Chư Thiên ở cõi sắc giới còn phân biệt và ham muốn nam nữ nhưng hết có chuyện tình dục vì cấu trúc cơ thể đã khác.  Họ còn ái tình nhưng đã hết dục vọng.  Chư Thiên ở cõi vô sắc giới hết còn dục vọng lẫn ái tình vì họ chỉ sống bằng tâm, không có hình sắc và cơ thể.  Tịnh chỉ cần nhìn xa một chút thôi thì thấy đàn ông chẳng thật sự là đàn ông và đàn bà chẳng thật sự là đàn bà. 

        4.  Quý vị đừng chấp là cõi đời này là sung sướng.  Cá tra ở các cầu ao ăn chất bất tịnh của người khác tưởng là sung sướng, con heo hết ăn cám rồi ngủ tưởng là sung sướng, chúng đâu biết khi chúng đến tuổi trưởng thành hay khi người chủ cần thì chúng sẽ bị đem đi bán và giết thịt.  Loài người và chư Thiên cũng vậy, tưởng đời là sung sướng mà đâu biết là đang sống trong căn nhà tam giới (dục giới, sắc giới và vô sắc giới) khổng lồ đang bị lửa cháy phừng phừng tứ phía.  Các cột xiêu vẹo và căn nhà đang cháy có thể sụp đổ bất cứ lúc nào mà không hay (quý vị có thể xem thêm điều này có nói rõ trong Kinh Pháp Hoa, phẩm 2 hay phẩm 3). 

        5.  Quý vị đừng chấp thời gian hay đời sống này là dài.  Muỗi sống 3 ngày, chó sống khoảng 10 năm, người sống khoảng 60 năm, chư Thiên sống lâu rất nhiều kiếp nhưng rồi phải tái sanh vào vòng luân hồi trở lại.  Đức PHẬT A-Di-Đà và cư dân của Ngài sống vĩnh cữu vô lượng kiếp. 

        6.  Quý vị phải bỏ đi chấp trước vì sự chấp này làm chậm lại việc tu-hành.  Quý vị nên xem lại Tịnh giải nghĩa rõ chấp trước là gì ở trang PHIM PHẬT GIÁO. 

        7.  Quý vị đừng chấp không gian này là rộng.  Cho dù quý vị ngồi nhìn biển rộng bao la chẳng có bến bờ cũng đừng nên nghĩ là vậy.  Đức PHẬT còn nhìn thấy có tiểu thiên thế giới (= 1,000 thế giới), trung thiên thế giới (=1,000,000 thế giới) và đại thiên thế giới (=1,000,000,000 thế giới).  Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật.  

 

 

        Nhân dịp Tết Tân Mão, Tịnh có những câu đối có nội dung Phật giáo tặng quý vị.  Những câu đối của Tịnh có thể đối nhau về nội dung của từ ngữ nhưng mà có thể không đối nhau lắm về những mặt khác của từ ngữ.  Kính mong quý vị hoan hỉ.  Hôm nay là mồng một Tết, Tịnh có hai câu đối Phật giáo nhân dịp Xuân về là: 

        Niệm Phật ba-la-mật là Pháp niệm để thành PHẬT
        Lục độ ba-la-mật là Pháp tu để thành Bồ-Tát. 

        Ba-la-mật có nghĩa là đến bờ kia hay là ra khỏi sanh tử.  Niệm Phật ba-la-mật là sự niệm Phật gần như lúc nào cũng niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà trong tâm hay là niệm ra tiếng.  Niệm Phật bằng cách này có thể là niệm trong tâm, niệm khe khẽ tiếng nhỏ hay niệm ra tiếng.  Ngoài ra không nghĩ gì khác và lúc nào cũng nghe danh hiệu Phật văng vẳng bên tai.  Nếu ai có thời gian nên niệm Phật bằng cách này thì tốt còn không thì niệm Phật thành khối như Tịnh có nói đến ở đầu trang LUẬN TỊNH ĐỘ cũng có thể Vãng sanh.  Lục độ ba-la-mật là pháp tu của Bồ-Tát gồm có:  Bố thí
ba-la-mật, trì giới ba-la-mật, nhẫn nhục ba-la-mật, tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mậtvà Trí huệ ba-la-mật


        Ngồi Thiền nhập định để thấy được bản lai diện mục
        Niệm Phật tam muội để thấy được bản tánh Di-đà. 

        Đỉnh cao nhất của ngồi Thiền là nhập định.  Tuy nhiên với tình trạng thông tin giải trí tràn ngập và ô nhiễm như hiện nay, Phật pháp gọi là thời kỳ Mạt pháp, thì khó có ai có thể tìm được chỗ hay giữ cho tâm được yên tịnh khi ngồi Thiền.  Tâm nhiều phiền não, sự ăn mặn, gần sắc dục cũng khó mà ngồi Thiền.  Tình trạng kinh tế khó khăn làm cho nhiều người bận rộn nên khó có cơ hội ngồi Thiền.  Hiếm ai có khả năng ngồi Thiền vài ngày đến nỗi không ăn uống để chứng được Sơ quả Thiền ngoại trừ những trường hợp sau có kể ra trong những bài viết Phật giáo.  Đó là những trường hợp của những Hòa Thượng:  HT Tuyên Hóa, HT Hư Vân, HT Thanh Từ và HT Quảng Khâm.  Có thể có những trường hợp nhập định của những Hòa Thượng khác.  Đỉnh cao nhất của niệm Phật là niệm Phật tam muội.  Bản lai diện mục là tên gọi trong Thiền tông và còn có những tên gọi khác:  Tâm thật, chân tâm, bản tánh Di-đà (tên gọi trong Tịnh-độ tông), Pháp thân,
Phật tánh, v.v...  Trước đây và sau này, tu-hành nếu mà nói ra hay khoe khoang thì không tốt nên Tịnh không nói ra.  Ở sự giải thích này Tịnh đề những chữ đỏ vậy thôi chứ Tịnh không khuyến khích quý vị làm theo vì trên thực tế thì hiếm có ai đạt được những cảnh giới này.  Sự giải thích chỉ là sự giải thích chứ quý vị nào có trí-huệ thì sẽ biết thêm được nhiều điều. 

 
         Ba câu đối của Tịnh cho ngày mồng hai Tết:

         Mắt Phật (và Bồ-Tát) khép nhiều tưởng là không biết gì cả nhưng thật ra biết rất nhiều,
         Mắt chúng sanh (không biết Phật pháp) mở to ngỡ là biết rất nhiều nhưng thật ra chẳng biết gì.

         Quý vị nhìn những hình ảnh và tượng của Phật và Bồ-Tát thì quý vị thấy mắt của các Ngài chỉ mở hờ gần như khép kín. Các Ngài vì ngăn không cho nhãn căn của 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sắc trần của 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) để tạo ra nhãn thức (là cái biết của mắt) của 6 thức (cái biết của mắt, cái biết của tai, cái biết của mũi, cái biết của lưỡi, cái biết của thân, cái biết của ý). Các Ngài biết 6 căn là giả và 6 trần là giả nên 6 thức là giả. Sáu trần biến đổi liên tục nên 6 thức biến đổi liên tục vì vậy người đó nhận lầm 6 thức này là tâm. Vì 6 thức là giả nên tâm này cũng là giả. Vì chân tâm của chư Phật và chư Bồ-Tát không bị vọng tưởng chi phối nên tâm của các Ngài được định. Vì Tâm của các Ngài có định nên sanh ra trí-huệ nên các Ngài biết được rất nhiều. Ngược lại những người không biết Phật pháp không biết 6 căn là giả + 6 trần là giả = 6 thức là giả nên ham mở to mắt, lắng tai nghe, người hay cầm nắm, ý hay suy nghĩ này nọ, mũi thỉnh thoảng ngửi, lưỡi tới lúc ăn thì nếm nên tưởng là biết, có kinh nghiệm, học hỏi thêm, già dặn sành đời, lịch lãm uyên bác nhưng thật ra những cái biết đó là do từ tâm giả phát sanh ra nên chẳng có lợi gì cho sự tu-hành của chính bản thân hay Pháp thân của mình.


Hình Đức Phật tay cầm hoa sen giơ lên

        Biết mà không suy nghĩ là Chân tâm,
        Suy nghĩ mà không biết là vọng tâm.
 
        Chân tâm còn gọi là Phật tâm, tâm thật, Phật tánh hay Pháp thân.  Vì vậy đức Phật mới thuyết:  "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh."  Sáu chúng sanh phàm phu (còn gọi là lục phàm là chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, thần A-tu-la và chư Thiên) khi qua đời hay hết thời gian để tồn tại ở kiếp đó thì dù chuyển sanh ở cảnh giới mới, có được thân mới thì vẫn giữ chân tâm hay Phật tánh ở kiếp trước.  Chúng sanh vẫn giữ tâm này cho dù hết kiếp rồi sanh ở cảnh giới nào.  Tâm này tồn tại vĩnh viễn không mất nên mới gọi là tâm thật hay chân tâm.  Chân tâm này không ở trong thân cũng không ở ngoài thân.  Ba chúng sanh ở cõi Thánh (còn gọi là Tứ Thánh ngoại trừ chư Phật ra vì Phật là Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác chẳng còn chuyển biến gì nữa, là Thánh A-la-hán;  Bích chi Phật và Bồ-Tát) khi hóa thân sang cảnh giới mới cho dù mang thân mới thì vẫn giữ tâm cũ.  Chân tâm này tánh biết mà không cần phải dùng đến 6 căn.  Ví dụ trong câu chuyện đức Phật tay cầm hoa sen giơ lên hỏi ngài A-nan:  "Ông có thấy hoa sen không?"  Ngài A-nan đáp:  "Dạ, con thấy."  Sau đó đức Phật lại giơ tay không cầm gì cả lên hỏi ngài A-nan:  "Ông có thấy hoa sen không?"  Ngài A-nan đáp:  "Dạ, con không thấy."  Đức Phật biết ngài A-nan trả lời sai nên giảng giải cho Ngài A-nan biết về tánh biết của tâm thật.  Đức Phật giảng cho ngài A-nan là ngài A-nan thấy chứ không phải không thấy vì nếu không thấy thì làm sao ngài A-nan biết được là đức Phật không cầm hoa sen?  Nghĩa là ngài A-nan thấy Phật giơ tay không lên không cầm gì cả chứ không phải là không thấy gì.  Nghĩa là ngài A-nan cho dù có suy nghĩ hay động tâm là:  "Đức Phật không cầm gì cả" hay không suy nghĩ gì cả thì cũng đều biết "Bàn tay của Đức Phật không cầm gì cả". 
Quý vị thấy hình hay tượng của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni tay cầm cành hoa sen giơ lên rất nổi tiếng là ý nghĩa này.  Ở trường hợp thứ nhất chân tâm biết mà có suy nghĩ thêm nên tạo ra nghiệp (tốt hay xấu, lành hay dữ) trong luân hồi sanh tử.  Ở trường hợp thứ hai chân tâm biết mà không suy nghĩ gì cả nên không tạo ra nghiệp (tốt hay xấu, lành hay dữ) gì cả trong luân hồi sanh tử.  Chân tâm cũng như ông chủ khách sạn cho thuê phòng.  Khách ở khắp nơi đến mướn phòng xong rồi đều đi nơi khác, chẳng có ai ở lại.  Khách đến mướn phòng là dụ cho vọng tâm.  Khách cũ đi khỏi thì khách mới đến không cố định duy chỉ có ông chủ là không thay đổi.  Chân tâm cũng như ánh nắng mặt trời chiếu qua khe cửa soi rõ vô số những hạt bụi nhỏ li ti.  Ánh sáng mặt trời chiếu sáng mà không lay động cũng như chân tâm lớn rộng, biết mà không suy nghĩ.  Những hạt bụi nhỏ li ti là vọng tâm, sáu thức (là sáu cái biết của sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) hay ngũ uẩn (1) cho dù di động, biến hóa, biến thiên, sanh diệt, được mất thì cũng chỉ là giả.  Vì vậy nên nói Biết mà không suy nghĩ là chân tâm.  Câu thứ hai nói là Suy nghĩ mà không biết là vọng tâm.  Suy nghĩ mà không biết suy nghĩ đó chỉ là sáu thức, là ngũ uẩn, là vọng tưởng hay là giả nên mới gọi là vọng tâm. 

        Giải thích:  (1)  Ngũ uẩn:  Tên gọi tắt là sắc, thọ, tưởng, hành và thức.  Tên gọi đầy đủ là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.  Sắc uẩn là tên chung của vật chất, bao gồm thân thể và tất cả sự vật ngoài thân.  Là sự tồn tại của sự vật khách quan, là thế giới vật chất hay "sắc pháp".  Thọ uẩn là sự cảm thọ của tâm (cảm thọ, lãnh nạp ...).  Tưởng uẩn là sự vận hành của ý niệm (nhớ tới, tri giác, suy xét, ký ức ...).  Hành uẩn là sự tác động của tâm:  Tác ý, mong muốn, hành vi, ghi nhớ, so sánh, phóng đại, tư duy, suy gẫm, gạt bỏ ...).  Thức uẩn là chức năng của sự hiểu biết, then chốt của những hoạt động tâm lý bao gồm tất cả những gì đã ghi nhớ được).  Bốn uẩn sau (thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn) là sự tồn tại của tư tưởng chủ quan, là thế giới tinh thần hay là "tâm pháp").  Mới 


        Phật chẳng ở đâu xa, chân tâm vốn là Phật,
        Đạo thì lại rất gần, không tâm vốn là Đạo.

        Chân tâm vốn là Phật tánh mà chúng sanh nào cũng có.  Ở câu thứ hai những chữ "không tâm" không có nghĩa là "không có tâm" mà là mục đích của Đạo là giải thoát.  Đạo Phật có nhiều pháp môn thì mục đích cứu cánh của tất cả các pháp môn đều là giải thoát.  Thí dụ:  Pháp môn niệm Phật có niệm Phật tam muội là niệm Phật liên tục nhiều lần, không gián đoạn cho đến khi thấy được tự tánh Di-đà;  pháp môn Thiền định có sự ngồi Thiền nhập định để thấy được bản lai diện mục, không còn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước gì cả và kiến tánh thành Phật.  Pháp môn Mật tông của Tây Tạng trì chú cho đến khi tam mật tương ưng để thành tựu Đạo quả, v.v...  Tất cả đều không ngoài mục đích xóa bỏ hết vọng tưởng, thấy được Phật tánh, chứng Đạo và thành PHẬT.  Chân tâm của một người nói riêng và của chúng sanh nói chung, trừ chư PHẬT ra, đều như là một tấm gương soi.  Bản chất của gương là sáng và sạch sẽ.  Bản chất của chân tâm là sáng suốt và vô nhiễm.  Khi gương bị dính bụi thì chân tâm bị ô nhiễm và trở thành vọng tâm.  Khi lau sạch bụi nơi gương thì chân tâm, tâm thật, Phật tánh, Pháp thân lại trở về trạng thái cũ là sáng suốt và vô nhiễm.  Vọng tâm khởi sanh từ nơi chân tâm và chỉ là một hình thức thay đổi của chân tâm.  Nếu nói vọng tâm là tâm giả, là chẳng có tâm gì cả thì sai lầm vì một người có thể hiểu lầm, chán đời và nói:  "Tôi không có gì cả, sống làm gì?"  Vì vậy vọng tâm không phải là tâm hoàn toàn giả mà là tâm có thể thay đổi, có thể chứng Đạo và thành PHẬT. 


        Ngày hôm qua Tịnh không đăng những câu đối được vì Tịnh có dự lễ party.  Kính mong quý vị hoan hỉ.  Hai câu đối của Tịnh cho ngày mồng ba Tết: 

        Đạo Phật có Ngũ giới là Không sát sanh, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không uống rượu và Không nói dối, 
        Đạo Nho có Ngũ thường là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí và Tín.

và 
        Rộng tu Giới, Định, Huệ để đường tu-hành tiến về phía trước,
        Diệt trừ tham, sân, si để sự giải-thoát không bị thụt lùi. 


        Hai câu đối của Tịnh cho ngày mồng bốn Tết: 

        Tu Phước mà không tu Huệ thì bị ngu si,
        Tu Huệ mà không tu Phước thì bị nghèo túng. 

        Do vậy cần phải Phước Huệ song tu. 

và 
        Tu niệm Phật (thuộc pháp môn Tịnh-độ) mà không tu Thiền thì tâm trí có khi bị rối loạn và tẻ nhạt, 
        Tu Thiền định mà không tu niệm Phật thì đường tu sẽ bị kéo dài và vô minh. 

        Do vậy phải nên Thiền Tịnh song tu.  Chữ Tịnh ở đây có ngụ ý chỉ cho pháp môn Niệm Phật.  Chữ Phật ở đây có ngụ ý là niệm Phật để thức tỉnh đức Phật hay Phật tánh của tự tánh.  Nghĩa là niệm Phật có lợi cho bản thân chứ không phải là niệm cho chư PHẬT. 


        Hai câu đối của Tịnh cho ngày mồng năm Tết: 

        Giải thoát sanh tử là niềm vui lớn nhất  
        Bị đọa địa ngục là đau khổ nhiều nhất. 

        Trong Kinh Pháp Cú đức Phật có thuyết:  "Niết-Bàn lạc tối thượng"  có nghĩa là sự chứng đắc Niết Bàn để được giải thoát khỏi sanh tử là niềm vui lớn nhất.  Trong thời kỳ đức Phật còn trụ thế là thời kỳ Chánh pháp thì lấy sự giữ giới để thành tựu sự giải thoát.  Đức Phật thuyết câu thơ này do vì một sự nhân duyên và để dạy dỗ những người có mặt hiện thời.  Thời kỳ hiện nay là thời kỳ Mạt pháp thì đức Phật khuyên nên dùng sự niệm Phật để giải thoát sanh tử.  Câu thơ trên có thể chuyển đổi thành:  "Vãng-sanh lạc tối thượng". 
 
        Trong Kinh Na-Tiên tỳ kheo vấn đáp thì tỳ kheo Na-Tiên có giải thích cho vị vua là lửa ở địa ngục nóng không thể tưởng tượng được.  Một cục đá nhỏ khi đem nung đốt bằng lửa thế gian vài ngày mà cục đá không hề hấn gì.  Cũng cục đá ấy mà to bằng cái nhà đem nung đốt bằng lửa địa ngục thì chỉ trong giây lát cục đá đó không còn.  Theo bài giảng của Hòa Thượng Tịnh Không thì một ngày ở cõi ngạ quỷ rất dài, một ngày ở cõi địa ngục còn lâu hơn rất nhiều.  Những ai bị đọa vào cõi địa ngục hay cõi ngạ quỷ phải chịu hình phạt lâu dài ở từng cõi đó lâu dài đến hàng ngàn năm.  Theo bài giảng của Cư sĩ Tịnh Hải (Cư sĩ Tịnh Hải đã Vãng-sanh mùa Xuân năm vừa rồi) thì những ai bị đọa địa ngục sẽ chịu những hình phạt ở đó hàng ngàn năm, sau đó lại bị đọa ở cõi ngạ quỷ và chịu những hình phạt ở đó hàng ngàn năm, sau đó lại bị đọa làm súc sanh đến hàng ngàn năm. 

và 
      
        37 phẩm trợ đạo dùng để xả bỏ pháp hữu vi
        73 phép thần thông (không có thật) là hơn cho Bật mã ôn (cũng không có thật).

        Bật mã ôn là biệt hiệu tên giữ ngựa của Tề Thiên Đại Thánh.  Tề Thiên Đại Thánh là một nhân vật trừu tượng trong chuyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân.  Một số cuộc đàm thoại giữa chư Tăng và Đường Tam Tạng không thật đúng nhưng dù sao cũng khai mở trí huệ nhiều cho những người sơ cơ học Phật.  Nếu gọi Đường Tam Tạng là Thánh Tăng thì không đúng.  Vì Thánh Tăng chỉ dùng để gọi các Đại Bồ-Tát là Quán-Thế-Âm và Đại-Thế-Chí, Đường Tam Tạng chỉ là phàm Tăng.  Tam Tạng là một nhân vật hư cấu không thật, là kiếp sau của Kim Thiền Trưởng Lão là đại đệ tử của đức Phật bị đọa xuống trần do phạm tội.  Trần Huyền Trang có tên như Tam Tạng là một nhân vật có thật.  Trần Huyền Trang là vị Tăng có công thỉnh Kinh từ Ấn Độ sang Trung Quốc và được xem là một vị La Hán trong 18 vị La Hán.  Theo Tịnh nghĩ những lỗi này có thể là không phải do chư Tăng giúp dàn dựng phim Tây Du Ký mà là do những người thông dịch.  Vì người thông dịch phim chỉ biết về ngôn ngữ thế gian chứ không biết nhiều về ngôn ngữ Phật giáo.  Cũng như những nhà ngôn ngữ học khi biên soạn từ điển thì họ định nghĩa không rõ ràng những từ ngữ Phật giáo. 

        Hồi nhỏ khi xem truyện tranh dài nhiều tập Tề Thiên Đại Thánh thì Tịnh rất mong muốn được như Tề Thiên có 72 phép thần thông, chứng quả Thánh, ăn đào tiên, uống linh đơn của Thái Thượng Lão Quân pha chế để được trường sanh bất tử.  Giờ đây Tịnh đã và đang có những điều đó là có thần thông, chứng quả Thánh và có rất nhiều những điềm lành Tịnh độ.  Những ngày gần đây thì những đám mây Tịnh độ nổi lên khá nhiều, hầu hết là những đám mây trắng rất đẹp tỏa ra thành những tia của một hào quang khổng lồ.  Tịnh có những điều đó đều do từ sự tu-hành Phật giáo và sự hướng dẫn của Bề Trên,  Tối nay khi đi làm về thì Tịnh thấy có một vòng tròn lớn màu vàng trên nền trời xanh như hình vòng tròn ở trang Những lời thuyết Pháp của Tâm Tịnh.  Màu xanh dương ở trong vòng tròn thì có màu đậm hơn màu xanh dương ở ngoài vòng tròn.  Vì vậy những ngôi sao ở trong vòng tròn thì có màu vàng sáng hơn những ngôi sao ở ngoài vòng tròn. 



        Hai câu đối khác của Tịnh:

        Kinh Pháp Hoa là vua của các Kinh,
        Đức Phật là vua của các Pháp. 



        Nên thực hành bố thí để tránh sự xan tham, 

        Nên nói lời chân thật để tránh lời vọng ngữ.


        Ngoài ra có những câu thơ khác có hình thức như câu đối và rất ý nghĩa.  Tịnh nêu ra đây để quý vị tham khảo:

        Muốn biết nhân đời trước,
        Nên xem quả ở đời hiện tại. 
        Muốn biết quả đời sau,
        Hãy xem việc làm (của thân cùng với hai nghiệp ý và khẩu) ở kiếp này. 
        (Kinh Nhân-Quả Ba Đời) 


        Thiền là tâm của Phật,
        Kinh là miệng của Phật.         


        Niệm Phật một câu phước tăng vô lượng,
        Lạy Phật một lạy tội diệt hà sa.