Những bài trích Kinh Pháp Hoa để khuyên gắng tu-hành



1.(12) Tôi thấy ở cõi kia

Có hằng sa Bồ-Tát

Dùng các món nhân duyên

Mà cầu chứng Phật đạo.

Hoặc có vị bố-thí

Vàng, bạc, ngọc, san-hô,

Chơn châu, ngọc như-ý,

Ngọc xa-cừ mã-não,

Kim-cương các trân-bửu

Cùng tôi tớ, xe cộ

Kiệu, cán chưng châu báu

Vui vẻ đem bố thí

Hồi hướng về Phật đạo

Nguyện được chứng thừa ấy

Bậïc nhất của ba cõi

Các Phật hằng khen ngợi.

Hoặc có vị Bồ-Tát

Xe tứ mã xe báu

Bao lơn che tàn đẹp

Trau tria dùng bố thí.

Lại thấy có Bồ-Tát

Bố thí cả vợ con

Thân thịt cùng tay chân

Để cầu vô thượng đạo.

Lại thấy có Bồ-Tát

Đầu, mắt và thân thể

Đều ưa vui thí cho

Để cầu trí tuệ Phật 

 

2.(13) Ngài Văn-Thù Sư Lợi! 

Ta thấy các Quốc-vương

Qua đến chỗ của Phật

Thưa hỏi đạo vô thượng

Bèn bỏ nước vui vẻ

Cung điện cả thần thiếp

Cạo sạch râu lẫn tóc

Mà mặc y pháp phục.

Hoặc lại thấy Bồ-Tát

Mà hiện làm Tỳ-kheo

Một mình ở vắng vẻ

Ưa vui tụng kinh điển

Cũng thấy có Bồ-Tát

Dõng mãnh và tinh tấn

Vào ở nơi thâm sơn

Suy xét mối Phật đạo

Và thấy bậc ly dục

Thường ở chỗ không nhàn

Sâu tu các thiền định

Được năm món thần thông

Và thấy vị Bồ-Tát

Chắp tay trụ thiền định

Dùng ngàn muôn bài kệ

Khen ngợi các Pháp-vương

Lại thấy có Bồ-Tát

Trí sâu chí bền chắc

Hay hỏi các đức Phật

Nghe rồi đều thọ trì.

Lại thấy hàng Phật tử

Định huệ trọn đầy đủ

Dùng vô lượng tỉ dụ

Vì chúng mà giảng pháp

Vui ưa nói các pháp

Dạy bảo các Bồ-Tát

Phá dẹp chúng binh ma

Mà đánh rền trống pháp

Cùng thấy vị Bồ-Tát

Vắng bặt yên lặng ngồi

Trời, rồng đều cung-kính

Chẳng lấy đó làm mừng,

Và thấy có Bồ-Tát

Ở rừng phóng hào quang

Cứu khổ chốn địa ngục

Khiến đều vào Phật đạo.

Lại thấy hàng Phật tử

Chưa từng có ngủ nghỉ

Kinh hành ở trong rừng

Siêng năng cầu Phật đạo

Cũng thấy đủ giới đức

Uy nghi không thiếu sót

Lòng sạch như bảo châu

Để cầu chứng Phật đạo.

Và thấy hàng Phật tử

Trụ vào sức nhẫn nhục

Bị kẻ tăng-thượng-mạn

Mắng rủa cùng đánh đập

Thảy đều hay nhẫn được

Để cầu chứng Phật đạo

Lại thấy có Bồ-Tát

Xa rời sự chơi cười

Và quyến thuộc ngu si

Ưa gần gũi người trí

Chuyên tâm trừ loạn động

Nhiếp niệm ở núi rừng

Trải ức nghìn muôn năm

Để cầu được Phật đạo.
 

3.(14) Lại thấy vị Bồ-Tát

Đồ ăn uống ngọt ngon

Cùng trăm món thuốc thang

Đem cúng Phật và Tăng,

Áo tốt đồ thượng phục

Giá đáng đến nghìn muôn

Hoặc là vô giá y

Dùng nghìn muôn ức thứ

Nhà báu bằng Chiên đàn

Các giường nằm tốt đẹp

Để cúng Phật cùng Tăng

Rừng vườn rất thanh tịnh

Bông trái đều sum sê

Suối chảy cùng ao tắm

Cúng cho Phật và Tăng,

Cúng thí như thế đó

Các đồ cúng tốt đẹp

Vui vẻ không hề nhàm

Để cầu đạo vô thượng. 
 

4. (15) Lại có vị Bồ-Tát

Giảng nói pháp tịch diệt

Dùng các lời dạy dỗ

Dạy vô số chúng sanh

Hoặc thấy vị Bồ-Tát

Quán sát các pháp tịnh

Đều không có hai tướng

Cũng như khoảng hư không

Lại thấy hàng Phật tử

Tâm không chỗ mê đắm

Dùng món diệu huệ này

Mà cầu đạo vô thượng.
 

5.(16) Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!

Lại có vị Bồ-Tát

Sau khi Phật diệt độ

Cúng dường Xá-Lợi-Phật.

Lại thấy hàng Phật tử

Xây dựng các tháp miếu

Nhiều vô số hằng sa

Nghiêm sức khắp cõi nước.

Bảo tháp rất cao đẹp

Đều năm nghìn do tuần.

Bề ngang rộng xứng nhau

Đều hai nghìn do tuần.

Trong mỗi mỗi tháp miếu

Đều có ngàn tràng phan

Màn châu xen thả xuống

Tiếng linh báu hòa reo

Các vị trời, rồng, thần,

Người cùng với phi nhơn

Hương, hoa, cùng kỹ nhạc

Thường đem đến cúng dường

Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!

Các hàng Phật tử kia

Vì cúng dường xá-lợi

Nên trang sức tháp miếu,

Cõi quốc giới tự nhiên

Thù đặc rất tốt đẹp

Như cây Thiên-thụ-vương

Hoa kia đang xòe nở

 

6.(34) Phật phóng sáng giữa mày

Hiện các việc hi hữu

Ánh sáng chiếu phương Đông

Muôn tám nghìn cõi Phật

Bày sanh tử nghiệp báo

Của tất cả chúng sanh

Lại thấy các cõi Phật

Dùng các báu trang nghiêm

Màu lưu ly pha lê

Đây bởi Phật quang soi.

 

7.(35) Lại thấy những trời, người

Rồng, thần, chúng Dạ-xoa

Càn-thát, Khẩn-na-la

Đều cúng dường Phật mình          



 



 


  8.(36) Lại thấy các Như-Lai

Tự nhiên thành Phật đạo,

Màu thân như núi vàng

Đoan nghiêm rất đẹp mầu

Như trong lưu ly sạch

Hiện ra tượng chơn kim

Thế-Tôn trong đại chúng

Dạy nói nghĩa thâm diệu. 

 

9.(37) Mỗi mỗi các cõi Phật

Chúng Thanh-văn vô số,

Nhân Phật-quang soi sáng

Đều thấy đại-chúng kia.

Hoặc có các Tỳ-kheo

Ở tại trong núi rừng

Tinh tấn giữ tịnh giới

Dường như gìn châu sáng 

10.(38) Lại thấy các Bồ-Tát

Bố thí nhẫn nhục thảy

Số đông như hằng sa (28)

Đây bởi sáng Phật soi.

Lại thấy hàng Bồ-Tát

Sâu vào các thiền định

Thân tâm lặng chẳng động

Để cầu đạo vô thượng.

Lại thấy các Bồ-Tát

Rõ tướng pháp tịch diệt

Đều ở tại nước mình

Nói pháp cầu Phật đạo.

 

 

 

  Giải thích:

(28) Sông Hằng một con sông lớn xứ Ấn-Độ, trong sông và hai bờ có cát rất mịn, trong kinh thường dùng số cát ấy để chỉ một số đông nhiều.

 

(Trích trong KINH PHÁP HOA, phẩm 1:  Phẩm Tựa).

 

  1. (29) Nếu có loài chúng sanh

    Gặp các Phật quá khứ

    Hoặc nghe pháp bố thí

    Hoặc trì giới nhẫn nhục

    Tinh tấn, thiền, trí thảy

    Các món tu phước huệ,

    Những người như thế đó

    Đều đã thành Phật đạo

    Sau các Phật diệt độ

    Nếu người lòng lành dịu

    Các chúng sanh như thế

    Đều đã thành Phật đạo

     

  2. (30) Các Phật diệt độ rồi

    Người cúng dường xá-lợi

    Dựng muôn ức thứ tháp

    Vàng, bạc và pha-lê

    Xa-cừ cùng mã-não

    Ngọc mai khôi, lưu ly

    Thanh tịnh rộng nghiêm sức,

    Trau giồi nơi các tháp,

    Hoặc có dựng miếu đá

    Chiên-đàn và trầm-thủy

    Gỗ mật cùng gỗ khác

    Gạch ngói bùn đất thảy,

    Hoặc ở trong đồng trống

    Chứa đất thành miếu Phật

    Nhẫn đến đồng tử giỡn

    Nhóm cát thành tháp Phật,

    Những hạng người như thế

    Đều đã thành Phật đạo.

     

  3. (31) Nếu như người vì Phật

    Xây dựng các hình-tượng

    Chạm trổ thành các tướng

    Đều đã thành Phật đạo.

    Hoặc dùng bảy báu làm

    Thau, đồng bạch, đồng đỏ

    Chất nhôm cùng chì kẽm

    Sắt, gỗ cùng với bùn

    Hoặc dùng keo, sơn, vải

    Nghiêm sức làm tượng Phật

    Những người như thế đó

    Đều đã thành Phật đạo

    Vẽ vời làm tượng Phật

    Trăm tướng phước trang nghiêm

    Tự làm hoặc bảo người

    Đều đã thành Phật đạo.

    Nhẫn đến đồng tử giỡn

    Hoặc cỏ cây và bút

    Hoặc lấy móng tay mình

    Mà vẽ làm tượng Phật

    Những hạng người như thế

    Lần lần chứa công-đức

    Đầy đủ tâm đại bi

    Đều đã thành Phật đạo

    Chỉ dạy các Bồ-Tát

    Độ thoát vô lượng chúng.

     

  4. (32) Nếu người nơi tháp miếu

    Tượng báu và tượng vẽ

    Dùng hoa, hương, phan, lọng

    Lồng kính mà cúng dường

    Hoặc khiến người trổi nhạc

    Đánh trống, thổi sừng ốc

    Tiêu địch, cầm, không-hầu

    Tỳ-bà, chụp-chả đồng

    Các tiếng hay như thế

    Đem dùng cúng dường hết

    Hoặc người lòng vui mừng

    Ca ngâm khen đức Phật

    Nhẫn đến một tiếng nhỏ

    Đều đã thành Phật đạo

     

  5. (33) Nếu người lòng tán loạn

    Nhẫn đến dùng một hoa

    Cúng dường nơi tượng vẽ

    Lần thấy các đức Phật

    Hoặc có người lễ lạy

    Hoặc lại chỉ chắp tay

    Nhẫn đến giơ một tay

    Hoặc lại hơi cúi đầu

    Dùng đây cúng dường tượng

    Lần thấy vô lượng Phật

    Tự thành đạo vô thượng

    Rộng độ chúng vô số

    Vào Vô dư Niết-bàn

    Như củi hết lửa tắt.

    Nếu người tâm tán loạn

    Bước vào trong tháp chùa

    Chỉ niệm Nam-mô Phật

    Đều đã thành Phật đạo

    Nơi các Phật quá khứ

    Tại thế, hoặc diệt độ,

    Có người nghe pháp này

    Đều đã thành Phật đạo

(Trích trong KINH PHÁP HOA, phẩm 2:  Phẩm Phương-Tiện).   

     


   

 

 

 

(25) Thí như ông Trưởng-giả

Có một căn nhà rất lớn

Nhà đó đã lâu cũ

Mà lại rất xấu xa,

Phòng nhà vừa cao nguy

Gốc cột lại gẫy mục

Trính xiêng đều xiêu vẹo

Nền móng đã nát rã,

Vách phên đều sụp đổ

Đất bùn rơi rớt xuống,

Tranh lợp sa tán loạn

Kèo đòn tay rời khớp,

Bốn bề đều cong vạy

Khắp đầy những tạp nhơ,

Có đến năm trăm người

Ở đỗ nơi trong đó.

Chim xi, hiêu, điêu, thứu,

Qua, chim thước, cưu, cáp

Loài ngoan-xà, phúc-yết,

Giống ngô-công, do-diên,

Loài thủ-cung, bá-túc

Dứu-ly cùng hề-thử

Các giống độc trùng dữ

Ngang dọc xen ruỗi chạy,

Chỗ phẩn giải hôi thối.

Đồ bất tịnh chảy tràn

Các loài trùng khương lương

Bu nhóm ở trên đó,

Cáo, sói cùng dã-can

Liếm nhai và dày đạp

Cắn xé những thây chết

Xương thịt bừa bãi ra,

Do đây mà bầy chó

Đua nhau đến ngoạm lấy,

Ốm đói và sợ sệt

Nơi nơi tìm món ăn

Giành giựt cấu xé nhau

Gầm gừ gào sủa rên,

Nhà đó sự đáng sợ

Những biến trạng dường ấy.

Khắp chỗ đều có những

Quỷ, lî, mị, vọng, lượng

Quỷ Dạ-xoa quỉ dữ

Nuốt ăn cả thịt người,

Các loài trùng độc dữ

Những cầm thú hung ác

Ấp, cho bú sản sanh

Đều tự giấu gìn giữ

Quỷ Dạ-xoa đua đến

Giành bắt mà ăn đó,

Ăn đó no nê rồi

Lòng hung dữ thêm hăng

Tiếng chúng đánh cãi nhau

Thật rất đáng lo sợ.

Những quỉ Cưu-bàn-trà

Ngồi xổm trên đống đất

Hoặc có lúc hỏng đất

Một thước hay hai thước

Qua rồi lại, dạo đi

Buông lung chơi cùng giỡn

Nắm hai chân của chó

Đánh cho la thất thanh

Lấy chân đạp trên cổ

Khủng bố chó để vui.

Lại có các giống quỷ

Thân nó rất cao lớn

Trần truồng thân đen xấu

Thường ở luôn trong đó

Rền tiếng hung ác lớn

Kêu la tìm món ăn

Lại có các giống quỷ

Cổ nó nhỏ bằng kim,

Lại có các giống quỷ

Đầu nó như đầu trâu

Hoặc là ăn thịt người

Hoặc là ăn thịt chó,

Đầu tóc rối tung lên

Rất ác lại hung hiểm,

Bị đói khát bức ngặt

Kêu la vừa rong chạy

Dạ-xoa cùng quỷ đói

Các chim muông ác độc

Đói gấp rảo bốn bề

Rình xem các cửa sổ

Các nạn dường thế đấy

Vô lượng việc ghê sợ (12)

  1. (26) Nhà cũ mục trên đó

    Thuộc ở nơi một người

    Người ấy vừa mới ra

    Thời gian chưa bao lâu

    Rồi sau nhà cửa đó

    Bỗng nhiên lửa cháy đỏ

    Đồng một lúc bốn bề

    Ngọn lửa đều hừng hực,

    Rường cột và trính xiêng

    Tiếng tách nổ vang động

    Nát gẫy rơi rớt xuống

    Vách phên đều lở ngã,

    Các loại quỷ thần thảy

    Đồng cất tiếng kêu to,

    Các giống chim điêu, thứu

    Quỷ Cưu-bàn-trà thảy

    Kinh sợ chạy sảng sốt

    Vẫn không tự ra được,

    Thú dữ loài trùng độc

    Chui núp trong lỗ hang

    Các quỷ Tỳ-xá-xà

    Cũng ở trong hang đó

    Vì phước đức kém vậy

    Bị lửa đến đốt bức

    Lại tàn hại lẫn nhau

    Uống máu ăn thịt nhau.

    Những loại thú dã-can

    Thời đều đã chết trước

    Các giống thú dữ lớn

    Giành đua đến ăn nuốt.

    Khói tanh bay phùn phụt

    Phủ khắp bít bốn bề,

    Loài ngô-công, do-diên

    Cùng với rắn hung độc

    Bị lửa lòn đốt cháy

    Tranh nhau chạy khỏi hang

    Quỷ Bàn-trà rình chờ

    Liền bắt lấy mà ăn.

    Lại có các ngã-quỷ

    Trên đầu lửa rực cháy

    Đói khát rất nóng khổ

    Sảng sốt chạy quàng lên,

    Nhà lửa đó dường ấy

    Rất đáng nên ghê sợ

    Độc hại cùng tai lửa

    Các nạn chẳng phải một.

     

  2. (27) Lúc bấy giờ chủ nhà

    Đứng ở nơi ngoài cửa

    Nghe có người mách rằng:

    Các người con của ông

    Trước đây vì dạo chơi

    Mà đến vào nhà này

    Thơ bé không hiểu biết

    Chỉ vui ham ưa đắm.

    Trưởng-giả vừa nghe xong

    Kinh sợ vào nhà lửa

    Tìm phương nghi cứu tế

    Cho con khỏi thiêu hại

    Mà dụ bảo các con

    Nói rõ các hoạn nạn:

    Nào ác quỷ độc trùng

    Hỏa tai lan tràn cháy

    Các sự khổ thứ lớp

    Nối luôn không hề dứt

    Loài độc xà, ngươn phúc

    Và các quỷ Dạ-xoa

    Cùng quỷ Cưu-bàn-trà

    Những dã-can, chồn, chó

    Chim điêu, thứu xi, hiêu

    Lại giống bá túc thảy

    Đều đói khát khổ gấp

    Rất đáng phải ghê sợ

    Chỗ khổ nạn như thế

    Huống lại là lửa lớn.

    Các con nhỏ không hiểu

    Dầu có nghe cha dạy

    Cứ vẫn còn ham ưa

    Vui chơi mãi không thôi

     

  3. (28) Bấy giờ trưởng-giả kia

    Mới bèn nghĩ thế này

    Các con như thế đó

    Làm ta thêm sầu não

    Nay trong nhà lửa này

    Không một việc đáng vui

    Mà các con ngây dại

    Vẫn ham mê vui chơi

    Chẳng chịu nghe lời ta

    Toan sẽ bị lửa hại.

    Ông bèn lại suy nghĩ

    Nên bày các phương tiện

    Bảo với các con rằng:

    Cha có rất nhiều thứ

    Các đồ chơi trân kỳ

    Những xe báu tốt đẹp

    Nào xe dê, xe hươu

    Cùng với xe trâu lớn

    Hiện để ở ngoài cửa

    Các con mau ra đây

    Cha chính vì các con

    Mà sắm những xe này

    Tùy ý các con thích

    Có thể để dạo chơi.

    Các con nghe cha nói

    Các thứ xe như vậy

    Tức thời cùng giành đua

    Rảo chạy ra khỏi nhà

    Đến nơi khoảng đất trống

    Rời những sự khổ nạn

    Trưởng-giả thấy các con

    Được ra khỏi nhà lửa

    Ở nơi ngã tư đường

    Đều ngồi tòa sư-tử

    Ông bèn tự mừng rằng

    Ta nay rất mừng vui

    Những đứa con ta đây

    Đẻ nuôi rất khó lắm

    Chúng nhỏ dại không hiểu

    Mới lầm vào nhà hiểm

    Có nhiều loài trùng độc

    Quỷ, lî mị đáng sợ

    Lửa lớn cháy hừng hực

    Bốn phía đều phựt lên

    Mà các trẻ con này

    Lại ham ưa vui chơi

    Nay ta đã cứu chúng

    Khiến đều được thoát nạn

    Vì thế các người ơi!

    Ta nay rất vui mừng.

    Khi ấy các người con

    Biết cha đã ngồi an

    Đều đến bên chỗ cha

    Mà thưa cùng cha rằng:

    Xin cha cho chúng con

    Ba thứ xe báu lạ

    Như vừa rồi cha hứa

    Các con mau ra đây

    Sẽ cho ba thứ xe

    Tùy ý các con muốn

    Bây giờ chính phải lúc

    Xin cha thương cấp cho.

     

  4. (29) Trưởng-giả giàu có lớn

    Kho đụn rất nhiều đầy

    Vàng bạc cùng lưu ly

    Xa-cừ ngọc mã-não,

    Dùng những món vật báu

    Tạo thành các xe lớn

    Chưng dọn trang nghiêm đẹp

    Khắp vòng có bao lơn

    Bốn mặt đều treo linh

    Dây vàng xen thắt tụi

    Lưới mành kết trân châu

    Giăng bày phủ phía trên

    Hoa vàng các chuỗi ngọc

    Lòng thòng rủ khắp chỗ

    Các màu trang sức đẹp

    Khắp vòng xây quanh xe

    Dùng nhiễu hàng mềm mại

    Để làm nệm lót ngồi

    Vải quí mịn rất tốt

    Giá trị đến nghìn muôn

    Bóng láng trắng sạch sẽ

    Dùng trải trùm trên nệm

    Có trâu trắng to lớn

    Mập khỏe nhiều sức mạnh

    Thân hình rất tươi tốt

    Để kéo xe báu đó

    Đông những tôi và tớ

    Mà chực hầu giữ gìn

    Đem xe đẹp như thế

    Đồng ban cho các con

    Các con lúc bấy giờ

    Rất vui mừng hớn hở

    Ngồi trên xe báu đó

    Dạo đi khắp bốn phương

    Vui chơi nhiều khoái lạc

    Tự tại không ngăn ngại.

     

  5. (30) Bảo Xá-Lợi-Phất này

    Đức Phật cũng như vậy

    Tôn cả trong hàng Thánh

    Cha lành của trong đời

    Tất cả các chúng sanh

    Đều là con của ta

    Say mê theo thế lạc

    Không có chút huệ tâm

    Ba cõi hiểm không an

    Dường như nhà lửa cháy

    Các nạn khổ dẫy đầy

    Rất đáng nên ghê sợ

    Thường có những sanh, già

    Bệnh, chết và rầu lo

    Các thứ lửa như thế

    Cháy hừng chẳng tắt dứt

    Đức Như-Lai đã lìa

    Nhà lửa ba cõi đó

    Vắng lặng ở thong thả

    An ổn trong rừng nội

    Hiện nay ba cõi này

    Đều là của ta cả

    Những chúng sanh trong đó

    Cũng là con của ta

    Mà nay trong ba cõi

    Có nhiều thứ hoạn nạn

    Chỉ riêng một mình ta

    Có thể cứu hộ chúng

    Dầu lại đã dạy bảo

    Mà vẫn không tin nhận

    Vì nơi các dục nhiễm

    Rất sanh lòng tham mê

    Bởi thế nên phương tiện

    Vì chúng nói ba thừa

    Khiến cho các chúng sanh

    Rõ ba cõi là khổ

    Mở bày cùng diễn nói

    Những đạo pháp xuất thế,

    Các người con đó thảy

    Nếu nơi tâm quyết định

    Đầy đủ ba món minh (13)

    Và sáu món thần thông (14)

    Có người được Duyên-Giác

    Hoặc bất thối Bồ-Tát.

    Xá-Lợi-Phất phải biết

    Ta vì các chúng sanh

    Dùng món thí dụ này

    Để nói một Phật-thừa

    Các ông nếu có thể

    Tin nhận lời nói đây.

    Tất cả người đều sẽ

    Chứng thành quả Phật đạo

     


    Giải thích:
     

     

    (12) Súy: Cú tai mèo; Hiêu, Điêu, THỨU: Loài chim dữ, tiếng xấu. THƯỚC: Chim khách.

    CƯU: Tu-hú. CÁP: Bồ câu. NGOAN-XÀ: Rắn độc. PHÚC-YẾT: Bò-cạp.

    NGÔ CÔNG: Rít. DO-DIÊN: Trùng, rận ở trong áo tơi. DỨU -LY: Chồn, cáo.

    HỀ-THỬ: Giống chuột. KHƯƠNG-LƯƠNG: Bọ hung.

    (13) Thiên-nhãn-minh, Túc-mạng-minh, Lậu-tận-minh.

    (14) Thiên-nhãn-thông, thần-túc-thông, thiên-nhĩ-thông, tha-tâm-thông, túc-mạng-thông, lậu-tận-thông.

     

     

    (Trích trong KINH PHÁP HOA, phẩm 3:  Phẩm Thí-Dụ).