Những bài viết về TỊNH-ĐỘ

Vài lời cùng quý vị: Đại Hựu Thiền Sư có ghi lại một số bài về Tịnh Độ của các bậc Cổ Đức rất hay. Tịnh rất có hữu duyên đọc được bài viết này của Thiền sư, mới hay Tịnh Độ pháp môn không những có nhiều cách hành trì mà phần lý luận cũng có nhiều điều rất sâu sắc, nhiệm mầu. Nay Tịnh xin phép đăng ra đây để quý vị nào yêu thích pháp môn Tịnh Độ niệm PHẬT có dịp tham khảo. Có nhiều thiên (bài viết) và bài Thập Niệm Pháp môn, nhưng có một số thiên bị thiếu. Nếu có quý vị nào có những phần thiếu thì xin vui lòng đăng thêm vào những phần này. Đây là việc làm vì lợi ích chung và có rất nhiều công đức. Tịnh cũng đăng 5 thiên (bài ghi ngắn) vào một lần trong một chủ đề (topic). Chúc quý vị thân tâm thường an lạc.

Tâm Tịnh.



Phụ lục: Thập Niệm Pháp Môn

(Pháp mười niệm này, ai ai cũng tu nổi, người bận rộn chẳng chuyên tu nổi thì nên thành tâm thực hành vào mỗi sáng, tối thì quyết định được vãng sanh).

Mỗi ngày sáng, tối hai thời, súc miệng xong; nếu không có tượng Phật thì hướng về phương Tây xá hoặc lễ bái. Có tượng Phật thì lễ Phật ba lạy, quỳ thẳng ngay ngắn, chắp tay, cung kính, dứt bặt các duyên, nhiếp tâm một chỗ, liên tiếp niệm Nam mô A Di Ðà Phật cho đến hết một hơi thì coi là một niệm. Mười hơi như thế gọi là Thập Niệm. Chỉ tùy theo hơi dài, ngắn, chẳng nệ vào số lần niệm Phật, chỉ lấy hơi thở làm hạn. Tiếng niệm chẳng cao, chẳng thấp, chẳng gấp, chẳng hoãn, nhịp nhàng, vừa phải, liên tục chẳng dứt. Ý nương theo hơi thở để nhiếp tâm khiến tâm chẳng tán loạn. Tâm đã thuần nhất thì công chẳng lớn lao hay sao? Pháp mười niệm này là do khi đức Di Ðà còn tu nhân đã có nguyện rằng: ‘Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu ta chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng vãng sanh thì chẳng lấy ngôi Chánh Giác’. Vì thế, hành giả trọn đời thọ trì chẳng để gián đoạn. Khi kẻ ấy lâm chung, vì bổn nguyện lực, đức Phật sẽ đích thân đến tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Một khi đã sanh Tây phương liền chứng địa vị bất thoái, vĩnh viễn thoát cái khổ sanh tử, luân hồi vậy. Trân trọng, trân trọng. Niệm xong lại hồi hướng rằng:

Nguyện con lúc lâm chung không chướng ngại. A Di Ðà Phật xa đón, Quán Âm rưới cam lộ trên đầu con, Thế Chí đặt đài vàng dưới chân con. Trong khoảng sát na lìa ngũ trược, như trong khoảng co duỗi cánh tay, về đến ao sen. Hoa sen nở rồi được thấy Từ Tôn, đích thân nghe được pháp âm rành rẽ. Nghe xong liền ngộ Vô Sanh Nhẫn, chẳng rời An Dưỡng, vào lại Sa Bà, khéo biết phương tiện cứu độ chúng sanh. Khéo dùng trần lao để làm làm Phật sự. Con nguyện như thế, xin Phật tự biết. Rốt ráo trong tương lai sẽ được thành tựu.


(ba mươi bảy thiên tiếp theo đây, đều do Ðại Hựu thiền sư trích từ sách vở của các bậc cổ đức rất hay, chớ xem thường)


1. Văn Thù dạy răn
2. Duy tâm phát hiện
3. Niệm Phật thông, biệt
4. Ví như mài gương
5. Trí có thể dẫn dắt hạnh
6. Nương theo nghiệp phát hiện
7. Bốn thứ hạnh nguyện
8. Lúc ngủ nhập quán
9. Hiếu dưỡng cha mẹ
10. Phát tâm Bồ Ðề
11. Thân cận bạn lành
12. Mười thứ tín tâm
13. Tự chướng, tự ngăn
14. Thân tâm hư ngụy
15. Tướng trạng, nguyên nhân của dâm và sát
16. Nghiệp tướng lúc lâm chung
17. Mười niệm vãng sanh
18. Ðặt tượng nơi trai phòng
19. Dùng lý đoạt sự
20. Bốn thứ tình chấp
21. Lẽ được mất của chuyện bàn suông về Không
22. Chống kinh, trái thánh
23. Vì nhỏ mất lớn
24. Mười điều mất mát nếu chẳng tu
25. Vĩnh viễn không có ma sự
26. Ba sức Ban Châu
27. Thuyền chở đá chẳng chìm
28. Vừa niệm liền sanh
29. Như gương hiện bóng
30. Cầu Phật gia hộ
31. Bí quyết trường sanh
32. Mười tâm trong kinh Bảo Tích
33. Ngài Từ Vân khuyên tu
34. Hiện đời được phước
35. Các sự lành hỗ trợ
36. Thành công cốt yếu là bởi thuần thục
37. Mười điều lợi thù thắng
38. Hổ Khê tôn giả khai thị
39. Liên Trì đại sư khai thị
40. Hám Sơn đại sư khai thị
41. Tử Bách lão nhân khai thị
42. Khẩu quyết niệm Phật của Thảo Am thiền sư
43. Ngẫu Ích đại sư khai thị
44. Triệt Ngộ thiền sư khai thị
45. Lời khuyên niệm Phật vãng sanh của Trần Hy Nguyện
46. Lời khuyên hai việc nên làm, ba điều chẳng nên làm khi niệm Phật của Tích Minh cư sĩ
47. Ấn Quang đại sư khai thị
48. Ba điều tối quan trọng lúc lâm chung (Lâm chung tam đại yếu)
49. Lược giải về Tam Quy
50. Lược giải về năm giới
51. Lược giải về Thập Thiện
52. Lời khuyên chơn thành về việc tránh sát sanh
53. Lược giải về Tam Chuyển Tứ Ðế Pháp Luân
54. Lược giải về Tứ Liệu Giản (tức Tịnh Ðộ Quyết Nghi luận)



1. Văn Thù dạy răn

Trong niên hiệu Ðại Lịch đời Ðường, Pháp Chiếu pháp sư đi lễ núi Ngũ Ðài, ngài Văn Thù ứng hiện nơi Ðại Thánh Trúc Lâm Tự chiếu sáng cả giảng đường. Sư thấy ngài Văn Thù ở phía Tây, ngài Phổ Hiền ở phía Ðông; vạn chúng Bồ Tát vây quanh thuyết pháp. Sư Pháp Chiếu làm lễ, thưa hỏi: ‘Chúng sanh đời mạt, trí thức thiển lậu, không cách chi hiển hiện Phật tánh tâm địa, con chưa biết tu pháp môn nào là thiết yếu nhất?’

Bồ tát Văn Thù đáp:

- Lời ông vừa hỏi thật là đúng lúc. Các môn tu hành không môn nào bằng Niệm Phật. Trong quá khứ, ta do niệm Phật nên đắc Nhất Thiết Chủng Trí.

Sư Pháp Chiếu lại thưa: - Nên niệm ra sao?

Ngài Văn Thù dạy: - Phía Tây thế giới này có Phật A Di Ðà nguyện lực khó nghĩ lường, ông nên hệ niệm chẳng để gián đoạn thì lâm chung quyết định vãng sanh.
Nói xong, lại xoa đầu ngài Pháp Chiếu. Sư nghe xong hớn hở, vui mừng. Tại nơi mình ở, ngài xiển dương pháp môn Niệm Phật. Vua Ðức Tông sắc truyền đón sư vào cung dạy cung nữ niệm Phật, pháp đạo lừng lẫy.


2. Duy tâm phát hiện

Vô Công cư sĩ nói: “Cực Lạc cách đây mười vạn ức cõi. Phàm phu mạng chung khoảnh khắc liền tới nơi là vì tự tâm vốn nhiệm mầu. Vì vậy, kinh Lăng Nghiêm chép: ‘Ông do chưa rõ hết thảy phù trần, các tướng huyễn hóa, ngay nơi này sanh ra, cũng theo ngay nơi đó mà diệt. Nhân duyên hòa hợp, hư vọng có sanh. Nhân duyên biệt ly, hư vọng gọi là diệt. Bởi chẳng biết sanh, diệt, đến, đi, bổn Như Lai tạng thường trụ diệu minh trong tánh chơn thường nên cầu nơi đến, đi, mê, ngộ sanh tử thì trọn không có chi để được’. Theo đó mà suy, trong lúc mạng chung, cái duyên nhiễm trược tan lìa nên đương xứ Sa Bà huyễn diệt. Duyên thanh tịnh hợp lại nên đương xứ Cực Lạc huyễn sanh. Cõi này diệt, cõi kia sanh chẳng xen hở dẫu chỉ bằng khoảng sợi tóc, còn bàn luận gì nổi việc xảy ra chỉ trong khoảnh khắc? Thấy dường như trọn ngày lấy, bỏ mà chưa hề có lấy, bỏ vậy.


3. Niệm Phật thông, biệt

[Sách Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ] Diệu Tông Sao chép: ‘Ðức Tỳ Lô Giá Na Phật ở khắp hết thảy chỗ; hết thảy các pháp đều là Phật pháp. Tức là: vị Phật nơi tánh đức của chúng sanh chẳng phải là tự, chẳng phải là khác, không phải nhân, chẳng phải quả. Vị Phật ấy chính là thể Viên Thường Ðại Giác. Vì thế, luận Khởi Tín chép: “Giác nghĩa là tâm thể ly niệm. Tướng ly niệm giống như hư không giới, không đâu chẳng hiện hữu. Pháp giới nhất tướng chính là Như Lai thường trụ pháp thân. Nương theo pháp thân ấy mà nói thì gọi là Bổn Giác”. Phải nên biết rằng: cái thể viên minh của quả Phật chính là tánh đức vốn sẵn đủ của bọn phàm phu ta. Vì vậy, hết thảy hạnh pháp đã được giảng dạy, không pháp nào chẳng nhằm để hiển minh cái giác thể này. Thế nên, tuy bốn pháp tam muội cùng được gọi chung là Niệm Phật, nhưng quán pháp của từng tam muội không giống nhau. Chẳng hạn như: Nhất Hạnh tam muội quán thẳng vào tam đạo, hiển lộ bổn tánh Phật. Phương Ðẳng tam muội thì kiêm tụng chú, Pháp Hoa kiêm tụng kinh. Quán Âm kiêm đếm hơi thở, giác ý suốt cả ba tánh. Ba thứ tam muội ấy tuy xét về sự thì khác nhưng xét về mặt niệm Phật lại đồng vì cùng để hiển lộ cái Ðại Giác Thể vậy. Tuy [các tam muội ấy] đều cùng nhắm vào niệm Phật nhưng đều dùng những cách chung chung để hiển lộ bản thể của chư Phật. Còn như quán môn này (tức là các pháp quán dạy trong Quán kinh)và Ban Châu tam muội thì lại nương vào cảnh y báo và chánh báo của cõi An Dưỡng, dùng vi diệu quán chuyên chú nơi đức Di Ðà để hiển lộ cái thể của chơn Phật. Tuy phải dựa vào cảnh, nhưng ta nên biết rằng y báo, chánh báo ấy đều cùng ở trong Nhất Tâm. Tâm tánh trọn khắp, không pháp nào nó chẳng tạo, không pháp nào nó chẳng sẵn đủ. Nếu có một mảy pháp nào sanh từ ngoài tâm thì chẳng gọi là Ðại Thừa Quán vậy”.


4. Ví như mài gương

Kinh dạy: “Ví như mài gương, hết dơ thì sáng hiện”. Gương cổ bị bụi lấp, dẫu vốn sẵn có quang minh nhưng ắt phải nhờ mài giũa thì sau đấy quang minh mới hiển hiện. Ðấy là ý nghĩa tu được thành tựu vậy. Tuy cần phải mài thì gương mới được tỏa sáng, nhưng cái sáng ấy toàn là vốn sẵn có, chứ chẳng phải là do từ bên ngoài mà có! Ðấy là nghĩa tánh đức. Nếu chấp khư khư rằng quang minh vốn sẵn có chứ chẳng phải do mài mà được, dẫu có bị chất dơ phủ kín, gương cổ vẫn có thể soi được sự vật thì thành ra cái lỗi: chấp tự nhiên! Nếu chấp nhất định rằng do mài giũa mà có được sự sáng suốt ấy thì mài ngói cũng thành được gương, thành ra cái lỗi: chấp nhân duyên!

Kinh nói: ‘Tâm này làm Phật’ là ước theo tu đức mà nói. Ý nói chúng sanh tuy có Bổn Giác thể, nhưng ắt cần phải do công năng của Thỉ Giác thì sau đấy mới chứng được. Tâm này là Phật’ là ước theo tánh đức mà nói. Ý nói: tuy do tu chứng mà Phật tánh của chúng sanh được hiển lộ, nhưng đó toàn là tánh đức vốn sẵn có, chứ nào phải do từ cái khác mà có được!


5. Trí có thể dẫn dắt hạnh

Tâm chánh thì hạnh chánh; trí tà hạnh ắt tà. Các hạnh tu của Ðại Thừa Bồ Tát đều dùng Bát Nhã để dẫn đường nên đều là cái nhân để thành Phật, thẳng vào biển Tát Bà Nhã (Nhất Thiết Trí). Phàm phu làm lành, cho là thật có nên quả báo [bị hạn cuộc] trong cõi trời, người. Khổ hạnh của ngoại đạo lấy tà kiến làm chủ nên hưởng báo trong tam đồ. Hạnh tu của bậc Nhị Thừa chuyên chí nơi Thiên Không nên chỉ chứng Tiểu Quả. Bậc Tiệm Tu Ðại Sĩ tuy dùng lý để viên dung sự, nhưng vẫn còn có công dụng, chưa thể với mỗi mỗi pháp đều tương ứng với Chơn Ðế nên rớt vào Ðệ Nhị. Viên đốn hành nhân thì mỗi một mảy điều lành lượng đều đồng pháp giới, khế hợp Chơn Như, chẳng hướng đến Nhị Thừa, chẳng ứ trệ trong ba cõi; thấu rõ hết thảy pháp đều là lý Tam Ðế chẳng thể nghĩ bàn nên hết thảy pháp đều là cái nhân để thành Phật; dùng bất tư nghị quán tu Niệm Phật tam muội là diệu hạnh viên đốn. Há có thể dùng cái vọng tình chấp trước của phàm phu, ngoại đạo để suy lường nổi sao!

 

 

(Đại Hựu Thiền Sư sưu tầm)

 Tiếp theo

Trở ra