Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh

Quyển 47. Chư Tôn Bộ 4

No. 1974 Trang 354

 

TRỰC CHỈ NIỆM PHẬT

Tác giả: Thiền Sư Diệu Khấu

Dịch giả: Thích Hồng Nhơn


 

 

 Lời đầu sách

 

Niệm Phật Tam Muội là vua của các Tam Muội, như châu ma ni như ý, có thể xuất sanh ra các bảo châu, như vua Chuyển Luân thống nhiếp tất cả các vua. Niệm Phật tam muội này rất viên đốn, có thể nói suốt đời thuyết giáo các kinh liễu nghĩa của đức Thế Tôn, không có thời nào là không tán dương niệm Phật tam muội. Các Bồ tát Thượng Thánh như Văn Thù, Phổ Hiền; Các Đại Tổ Sư như Mã Minh, Long Thọ, Vĩnh Minh, Trí Giả, Thiên Thân, tất cả đều hướng tu và hoằng truyền Tam muội này.

Như vậy mà gần đây có một số người không biết, cho rằng tự tánh Di Đà không có giáo chủ ở cõi lạc bang, nói tịnh độ duy tâm không có quốc độ Cực lạc ở hướng Tây cách đây mười muôn ức cõi, vọng nhận duyên ảnh sáu trần làm tướng tự tâm, hoàn toàn không biết thế giới trong mười phương mỗi cõi đều phát nguyên từ tánh chơn pháp giới, thật đáng buồn thay! Ngày xưa, Thiền sư Diệu Khấu, một bậc nanh vuốt tông môn đương thời, thương xót những người chạy theo tà kiến đã trước thuật Luận Trực Chỉ Niệm Phật với mục đích tồi tà phụ chính, hướng thượng chỉ quy. Quyển Luận này đã từng vang bóng một thời, sau này bị pháp nạn nên tác phẩm bị thất lạc, Tổ Liên Trì nghe danh muốn tìm đọc mà không gặp. Một dịp tình cờ Thiền Sư Vạn Dung tìm được và Tổ Trí Húc đã kết tập vào trong Tịnh Độ Thập Yếu. Quyển Luận này được đánh giá là một quyển luận cốt yếu của Tông Tịnh Độ.

Nội dung toàn bộ luận nhằm trình bày bốn môn chính yếu của người tu Tịnh độ. Hành giả muốn thực hành pháp môn Tịnh độ trước phải hiểu rõ và từ đó có lòng tin chắc, trong luận từ chương 1 đến chương 8 được gọi là Tín Giải môn. Đã hiểu và có niềm tin vững chắc rồi hành giả cần phải phát khởi ý nguyện quyết tâm thực hành, chương thứ 9 trong luận được coi là Phát Nguyện môn. Đã tin sâu, nguyện thiết rồi, hành giả phải phát tâm thực hành những điều đã dạy trong kinh, từ chương 10 đến chương 18 được coi là Tu Hành môn. Khi đã tu hành đúng lời Phật dạy, hành giả sẽ gặt hái được kết quả, từ chương 19 đến hết thuộc về Chứng Nghiệm môn. Hành giả quán xuyến đủ bốn môn kể trên chắc chắn việc tu Niệm Phật Tam Muội có nhiều kết quả.

Gần đây người học Phật cũng nhiều mà kẻ tà kiến cũng lắm! Giống như hoàn cảnh trong thời Diệu Khấu Thiền Sư. Chính vì thế, chúng tôi cố gắng phiên dịch Luận Niệm Phật Trực Chỉ này mục đích làm gió tà bớt thổi, đèn chánh pháp rạng ngời, pháp giới hữu tình đồng sanh Tịnh độ. Người xưa dạy: "Lão lai tài tận" người già chỉ có lòng mà không có sức. Vì vậy, trong bản dịch vẫn còn nhiều điểm sai sót. Dám mong chư thiện tri thức nhận ý quên lời vui lòng góp ý để cho tái bản kỳ sau được hoàn hảo.

Trân trọng,

Mạnh Thu Nhâm Ngọ 02

Hồng Nhơn cẩn bút.

 


 

Trực Chỉ Niệm Phật

Sa môn Diệu Khấu Tập

Sa môn Hồng Nhơn dịch

 

Dẫn Nhập

 

Niệm Phật Tam Muội gọi là Bảo vương là một Tam Muội tối thượng trong tất cả Tam Muội, ban đầu đề xướng ở Lô Sơn và sau đó lưu truyền khắp thiên hạ. Nhiều người trong đời tin tu vãng sanh rất nhiều, trước tác văn chương ghi những điều chứng nghiệm chẳng phải ít. Từ xưa đến nay hoằng dương rộng rãi, nên dù thiền hay giáo đều rất tôn sùng, hoặc thánh hay phàm cùng chung qui ngưỡng. Nhưng tiếc nỗi trong thời Mạt pháp nhiều người căn cạn, không dùng thuốc đúng bệnh, cho rằng muốn về Tịnh độ Cực Lạc không cần hướng về Tây phương mà chỉ cần phân biệt duyên ảnh tự tâm. Người có kiến chấp này thì nhọc công mà không lợi ích, tuy có tu mà không có cảm ứng và kết quả. Chính vì thế, chúng tôi (Diệu Khấu) lượm nhặt những diệu chỉ từ những sớ sao của các Tôn trong các kinh Tịnh độ, biên thành lời thuật, tuy văn chương sơ sài, nhưng đó là hoài bảo từ trong tim óc dùng để cảnh tỉnh cho mình và cho người khác, nên lấy tên là Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ gọi tắt là Trực Chỉ Niệm Phật.

I. Tín giải môn

1. Y báo và chánh báo cõi Cực lạc.

Đức Thế Tôn là một bậc Vô Thượng Chánh biến Tri, ứng khắp các cơ, từ cung trời Đâu Xuất giáng trần, ròng rã suốt 49 năm thuyết pháp có hơn 300 dư hội với hoài bảo làm cho chúng sanh đồng chứng chơn thường. Cho đến hội cuối cùng ở Linh Sơn mới nói Kinh Pháp Hoa khai thị chúng sanh ngộ vào tri kiến Phật, đó là bản hoài mà đức Phật muốn đề xướng. Nhưng cái Đạo độ chúng sinh thoát khỏi luân hồi không phải chỉ có một mình đức Thích Ca, mà các đức Như Lai trong 3 đời đồng truyền chánh giáo. Tuy vậy, trong một đời thuyết giáo của đức Thích Ca Mâu Ni, ngài dùng rất nhiều pháp môn tùy theo căn cơ thích hợp mà giáo hoá, nhưng pháp môn hợp thời cơ, có duyên sâu dày giữa Phật và chúng sinh, pháp tu rất thẳng tắt, dễ làm mà có hiệu quả cao, không có pháp môn nào hơn pháp môn Tịnh độ.

Pháp môn niệm Phật này ban đầu do Tỳ kheo Pháp Tạng ở vô lượng kiếp trước làm vị Đại Quốc Vương, nghe Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, liền bỏ nước xuất gia làm Tỳ kheo. Đức Phật Thế Tự Tại Vương vì nguyện vọng của Tỳ kheo Pháp Tạng mà rộng nói và thị hiện 210 ức cõi Phật trang nghiêm gồm cả các việc thô tế, thiện ác của người trời mỗi cõi chẳng đồng nhau. Tỳ kheo Pháp Tạng nghe rồi, liền ở trước Phật Thế Tự Tại Vương phát 48 đại nguyện: “Nguyện khi thành Phật nhân dân trong nước không có các thứ như: 3 đường, 3 độc, 8 khổ, 8 nạn, 9 não, 10 trói buộc và các thứ chướng ngại. Người sanh về nước tôi sẽ thành bậc chánh định, được pháp nhẫn, ngộ chơn tâm, có trí giải thoát thù thắng. Người muốn được sanh, khi lâm chung chỉ cần niệm Phật cho đến 10 niệm liền được sanh, nếu không được như vậy thì tôi không ở ngôi chánh giác”. Khi ấy cõi đất chấn động, trời rưới hoa đẹp, nhạc hư không tự trổi. Đức Phật Thế Tự Tại cũng thọ ký cho Tỳ kheo Pháp Tạng đã đắc quả thành Phật đến nay đã hơn 10 kiếp. Do ngày xưa phát đại nguyện thù thắng, công đức thần thông, ánh sáng, 10 lực, vô sở úy vượt qua các cõi Phật ở 10 phương hiệu là Phật A Di Đà.

Tịnh độ Phật A Di Đà ở từ thế giới Ta Bà này thẳng về hướng Tây cách 10 muôn ức quốc độ, gọi là Cực lạc cũng gọi là An Dưỡng. Hiện nay Phật A Di Đà đang ở cõi ấy, vì đại nguyện và sức thần thông nên hiện đang thuyết pháp, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật trong 10 phương. Chúng sanh nào được sanh về cõi ấy đều ở vị bất thối chuyển, người sinh về cõi ấy nhiều vô lượng, chỉ dùng số hằng hà sa vi trần để thí dụ thôi.

Quốc độ Cực lạc được trang nghiêm vô cùng thắng diệu, vượt qua các cõi Tịnh độ trong 10 phương. Ao báu ở trong cõi ấy lớn nhỏ đều dùng bảy báu tạo thành. Ao lớn cõi ấy rộng khôn kể xiết, đáy bằng cát vàng, chung quanh có đường đi, bên đường có lầu gác cả nghìn tầng rộng lớn đẹp đẻ, ánh sáng chói lọi nói không thể hết. Ở trong ao có nước bát công đức trong suốt, thơm ngát đầy dẫy. Có 14 cây phun nước, phun lên rơi xuống thành tiếng diễn nói vô lượng pháp môn. Ở trong nước ấy có đến 60 ức hoa sen bảy báu, nở tròn tươi đẹp, nước rơi vào cánh sen bốn màu phát ra bốn thứ ánh sáng. Những người vãng sanh ở ba bậc hoặc chín phẩm sắp theo thứ lớp, hương thơm vi diệu, ánh sáng rực rỡ cả nước.

Cõi ấy đất báu bằng phẳng do nguyện lực mà thành, ở trên đất ấy có 7 lớp lan can, 7 lớp hàng cây, tràng phang thòng xuống được kết bằng châu anh lạc, mỗi thứ đều có vô lượng vẻ đẹp thù thắng, phất phơ đẹp đẻ trang nghiêm khắp nước. Ở trong hư không rưới các áo trời, hương trời, hoa trời, lụa trời, nhạc trời, mỗi thứ đều có đến vô lượng, tung bay tản mạn đầy khắp hư không, các món trang nghiêm vô lượng như thế đều làm bằng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, tỳ lăng già, ngỏa thúc ca, Như Ý châu vương, kim cang Ma Ni, không thể tính đếm, đều do trân bửu mà thành. Trong mỗi thứ trân bửu đều phóng ra vô lượng trăm ngàn muôn ức màu đẹp, cùng nhau chiếu sáng, mỗi thứ đều chiếu khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, các ánh sáng ấy giao tiếp hoà hợp không hề chướng ngại, trùm khắp hư không, nói không cùng tận. Vô lượng các thứ trang nghiêm, vô lượng các thứ ánh sáng như thế. Các thứ ánh sáng, các thứ trang nghiêm cùng với thiên nhạc, hương hoa trên hư không, chim hót lưới reo, tiếng ấy cung thương đúng nhịp, điệu tiết hoà hợp, phát ra vô lượng vô biên tiếng mầu nhiệm. Tiếng ấy liên tục cùng khắp không hề gián đoạn, tất cả đều diển nói các ba la mật khổ không vô ngã, tán thán đạo Bồ Đề, ca ngợi Phật Pháp Tăng, hoặc nói Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Y Túc, Ngũ căn, Ngũ Lực, Thất giác Chi, Bát Thánh đạo, Lục độ Vạn Hạnh, 10 Lực, 10 Vô Sở Úy, 18 Pháp Bất Cọng, đại từ đại bi, đại hỷ đại xả, vô lượng pháp môn không thể nghĩ bàn. Chỗ thuyết pháp ấy nói về y chánh và sắc tâm của chư Phật ba đời dung thông không ngăn ngại, đồng nhau khuyến tấn kẻ tu hành như tiếng pháp âm của Phật không khác. Chúng sanh ở trong nước ấy nghe pháp rồi mỗi niệm đều được thỏa đáng an vui, mau được hạnh thù thắng của Tam thừa, tất cả đạo phẩm, vô lượng giải thoát như từ Phật nghe chẳng có sai khác. Dù là phàm phu, nghe pháp này rồi tự nhiên tinh tấn, còn không có chút ý niệm mõi mệt, làm sao có ý thối chuyển.

Ở cõi Cực lạc thuần nhất có con trai, không có con gái, từ hoa sen sinh ra, không ở bào thai, mặc đồ xinh đẹp, thân thể thơm tho, luôn luôn vui vẻ, tùy theo ý muốn mọi vật đều hiện đầy đủ ra. Không có ngày đêm, lạnh ấm, không có sanh già bệnh chết, không có các thứ núi đất, không có ba đường ác đạo. Đi qua lại trong hư không, kinh hành dưới cây, muốn làm các Phật sự, thị hiện thần thông đều từ tâm niệm liền hiện đến. Nhân dân ở đây sống lâu vô lượng, có đủ các thứ khoái lạc như thế nên gọi là Cực lạc.

Lại nữa, Đức Thế Tôn A Di Đà có công đức ánh sáng, oai thần tướng hảo, mỗi thứ đều có đến 84.000, như núi vàng tía, ngồi trên đài hoa sen, tòa sư tử, trang nghiêm rực rỡ, cao vọi trên không to bằng bốn biển lớn, lông hào quang ở giữa chặng mày có năng lực lớn phát ra ánh sáng, như mặt nhật lên cao các đèn đều đẹp. Trong ánh sáng hoá Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, mỗi vị đều phóng ánh sáng lớn, chiếu thấu đến các cõi nước ở xa, nhiếp thọ chúng sanh. Quan Âm Đại Sĩ và Thế Chí Đại Sĩ cũng đều phóng quang như vậy. Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, các Đại Bồ tát đều ở nước kia một đời bổ xứ, số ấy rất nhiều, các bậc thiên nhân họp về một chỗ, đều là bạn lành thờ Phật làm thầy, thân cận bên Phật, nghe đệ nhất nghĩa, vượt khỏi ba cõi, liền chứng vô sanh, mười địa vượt qua, hai giác viên mãn. Có thể ở trong mỗi niệm cúng dường Tam Bảo ở mười phương, thành tựu tất cả pháp môn, có du hí thần thông, tịnh quốc độ Phật. Cho đến vào chốn ba cõi sáu đường, phóng quang phá tối, cứu khổ chúng sanh. Hoặc lại phân thân trăm nghìn cõi nước, tùy duyên hoá đạo, theo bệnh cho thuốc, như lòng lành ban bố của Phật, ở trong mỗi niệm viên mãn hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, đủ sức trí huệ của Bồ Tát Văn Thù, có năng lực của Bồ tát Đại Thế Chí, như đức Quán Thế Âm, đồng chứng Bồ đề, đồng ở chỗ Phật. Tánh của tất cả chúng sanh vốn tối tăm, được nghe pháp này đều rất hoan hỉ mà sanh lòng tin vui. Việc trang nghiêm diệu độ tuy có đủ trong tâm của chúng ta, nếu không có đức Như Lai A Di Đà, ở trong thuở quá khứ, vì độ chúng sanh, thực hành đạo bồ tát, công khó không thể nghĩ bàn đâu có được thành tựu như ngày hôm nay. Nên biết rằng: Đức Phật A Di Đà có hạnh nguyện vô lượng vô biên, trang nghiêm vô tận, cho nên, Như Lai A Di Đà ở quốc độ kia, nguyện lớn viên mãn, cõi báu mới viên thành, y báo, chánh báo trang nghiêm, tất cả đều viên mãn. Sự trang nghiêm y chánh cảnh giới như thế dù tất cả chư Thanh văn, Duyên giác như số cát sông Hằng trong mười phương dùng sức đại biện tài, xưng tán chân thật, dù suốt đời vị lai cũng không khen ngợi cho hết.

Nếu có người thiện nam tín nữ nào nghe nói y chánh trang nghiêm ưa muốn sanh về cõi kia, cầu theo lời Phật dạy, phải phát khởi đủ ba thứ tâm (trực tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm), giữ đầy đủ các giới đã thọ, không phạm oai nghi. Sau đó,  dùng tâm chơn thật, quán quốc độ kia, tất cả cảnh giới thắng diệu vô lượng, y chánh trang nghiêm và thân đức Như Lai kia có 8 muôn tướng hảo công đức, ánh sáng thanh tịnh. Hoặc lại tùy giữ lấy một cảnh một tướng cho đến lông trắng giữa chặng mày của đức Như Lai, xa lìa hư vọng. Hoặc một niệm đến 10 niệm, hoặc 1 ngày đến 7 ngày, nhanh như tráng sĩ co tay, trong chốc lát liền được vãng sanh. Hoặc có người tin chắc có quốc độ Cực lạc và có Phật A Di Đà với nguyện lực đại thần tiếp dẫn chúng sanh; chẳng sanh chút nghi hoặc, từ đó một lòng gìn giữ danh hiệu, không cần đợi lâu cũng được vãng sanh, đâu cần đợi quả báo của sắc thân này mãn mới được vãng sanh. Nên biết, đức Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sanh ra khỏi cảnh khổ, Ngài thương chúng sanh hơn cha mẹ thương con. Ở trong các kiếp trước đây đã lập thệ nguyện lớn, không có khổ gì mà không nhận, không có việc khó nào mà chẳng làm, không có nguyện nào mà không lập, không có pháp nào mà chẳng nói để độ chúng sanh, dùng đến trăm ngàn phương tiện để độ sanh. Hôm nay là lúc hằng ngày mõi mắt trông chờ, đưa tay chờ tiếp dẫn đã hơn 10 kiếp, mỗi niệm không rời, héo hắt gan lòng, cho đến một lòng chí thiết vào trong sanh tử, qua khắp ba đường, lửa dữ địa ngục không hề sợ nhọc. Chúng ta nếu quay về niệm Phật như con nhớ mẹ, an ủi lòng trông mong của mẹ dù chỉ một niệm cũng được vãng sanh đâu cần trãi qua 10 niệm mới được vãng sanh.

2. Phá vọng hiển chơn

Hành giả muốn sanh về nước Cực lạc, thoát ly sinh tử, trước phải biết rõ tâm chơn và vọng cầu sanh Tịnh độ. Phải biết thế giới Cực lạc là ở tại cảnh hay tại tâm. Nếu ở tại tâm thì hoàn toàn thuộc về hư tưởng, không có cảnh giới để sanh về. Nếu ở tại cảnh, tuy có chỗ sanh về nhưng lại mất tâm. Nếu nói cầu sanh về cả tâm và cảnh thì thân và tâm là một, đâu thể nói vãng sanh từ chỗ này đến chỗ khác. Nếu nói tâm và cảnh là một, thì khi nhất tâm cầu sanh thì tự thấy tâm cảnh rõ ràng không thể nói là một. Lại nữa Cực lạc và Ta bà hai cõi tịnh và uế chẳng đồng. Huống nửa đức Thế Tôn ân cần dặn bảo phải bỏ cõi uế, cầu sanh về cõi Tịnh nghĩa ấy làm sao đúng. Bốn câu có, không, chăng phải có, chẳng phải không đã chẳng thể tìm, hoặc nói mỗi chỗ đều là Tây phương Cực lạc, hoặc nói tâm tịnh thì nơi ấy là Cực lạc, hoặc nói Cực lạc không rời tâm mình, nếu hiểu như vậy đều gọi là tà kiến, nên tôi không thể lặng yên. Nếu nói Cực lạc tại tâm liền nhận lầm tâm này ở trong thân ta, đã nói ở trong thân thì chỉ gọi cầu tâm sao lại gọi cầu sanh. Đức Thế Tôn ta há chẳng biết Cực lạc tại tâm sao, lại nói ở hướng Tây cách mười muôn ức cõi nước có cõi Cực lạc ở ngoài ư! lại không chỉ ở nội tâm mà chỉ nói ngoại cảnh làm gì! Hôm nay, thế giới Cực lạc ở phương Tây, Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp, cảnh đó sự thật rõ ràng.  Đây là lời vàng của bậc Đại Thánh nói thật, ta đâu dám chẳng tin, mà không biết cõi Cực lạc ngoài tâm cảnh duyên này chính là chơn tâm của ta. Chơn tâm của ta này như biển lớn kia không tăng không giảm, cái mà ta vọng nói là cảnh Cực lạc tại tâm duyên ảnh ấy như một hòn bọt trong biển, sanh diệt toàn là vọng mà ông dối nói là tâm. Nếu ông cố chấp vọng kiến không trừ ngoài có Cực lạc, tin trong tâm duyên ảnh của ông có Cực lạc là sai, vì cái ảnh tâm mà ông duyên không có thể, nên không dùng tâm cầu sanh về tâm mà không biết rằng cõi Cực lạc kia tuy ở phương tây, nhưng phương tây ấy vẫn còn nằm trong chơn tâm của ta. Chơn tâm không có tánh tức là danh thể cõi kia dùng để hiển bày tâm ta. Danh thể vốn không, cũng tức là chỉ cái tướng của tâm ta, tâm cảnh một thể, chúng sanh và Phật cùng nguồn, cầu Phật kia là cầu tự tâm, chẳng phải cầu ở bên ngoài. Muốn khảo cứu tự tâm phải tìm ông Phật kia thì đâu có lỗi lầm gì! Hiểu như thế thì việc lấy bỏ, ưa chán thật rõ ràng, dù ta có cầu cũng đâu phải ngoài tâm vì tâm có đầy đủ cả. Như thế nên biết trong tâm nầy có đầy đủ y báo, chánh báo, cảnh giới, cho đến sắc tâm, tịnh uế, chúng sanh Phật, nhân quả, các pháp trong ba đời ở mười phương, bao gồm khắp cả, cùng một thọ dụng, cầu một tướng bên ngoài cũng không thể được, tuy không có tính ngoài, không chia mà chia, nên tịnh và uế rõ ràng. Như thế nên biết việc cầu phải là cầu ở vọng tâm ư! Như nguyện cầu Phật ấn khả, cùng với những người thế gian chẳng biết bổn tâm, ngu si không tới, chẳng cầu Phật ở Tây phương Cực lạc, chỉ hướng vào cái thân thịt cùng vọng tâm duyên ảnh cầu gọi là Duy Tâm Tịnh độ, bản tánh Di Đà thật khác xa. Cõi nước Cực lạc kia, không y theo vọng tâm duyên ảnh và sắc thân Phật A Di Đà kia cũng không phải ở trong ấm thể của chúng sanh. Nếu hướng vào trong thân tâm duyên ảnh tứ đại của ta mà cầu ông Phật tự tánh của chính mình mà không cầu ông Phật ở Tây phương thì vọng tâm sanh diệt, nên Phật cũng sanh diệt, vì Phật sanh diệt nên Tam Muội chẳng thành, dù cầu có được chăng, cũng chỉ thành ông Phật sanh diệt mà thôi và trở lại cõi sanh diệt không thể thành tựu hạnh chơn chánh được.

Kinh nói: "Đem tâm luân hồi, sanh ra cái chấp luân hồi thì tánh viên giác kia cũng đồng luân chuyển". Nếu muốn lìa các vọng chấp để sanh thẳng về nước kia, chỉ cầu đức Phật A Di Đà ở cõi Cực lạc cách đây 10 muôn ức quốc độ, dùng đúng tánh diệu quán mà quán tưởng làm cho bản giác và tướng hảo của đức Như Lai kia hiển hiện, hợp với thể giác của chúng sanh thì chơn tâm từ đó phát minh, thủy giác và bản giác hợp nhau, Phật và chúng sanh cùng có cảm ứng, tam muội liền thành, chánh hạnh do đây mà lập, cõi không sanh diệt mới có thể sanh về được. Nên biết rằng tâm này trùm khắp tất cả chỗ, còn không bỏ địa ngục, vì sao không chứa cõi Cực lạc. Chỉ vì địa ngục là chốn khổ nên nay thuận theo tánh mà cầu xa lìa, Cực lạc chín phẩm nay cũng thuận tánh mà cầu sanh. Y theo khế kinh, thuận theo pháp âm của Phật cầu lìa khổ được vui, từ phàm vào thánh, thật không ra ngoài tâm tánh của chúng ta, nên gọi là Duy Tâm Tịnh Độ, Bản Tánh Di Đà. Đâu phải nói từ trong vọng tâm cầu, vọng tâm vốn không thể làm sao gọi là duy tâm bản tánh của Phật được?

Ông hướng theo vọng tâm duyên ảnh của tự mình để cầu dùng sắc thân và núi sông đại địa, mười phương cõi nước là ngoại cảnh, còn đây là hướng chơn tâm bất đọng của chính mình để cầu thì núi sông đại địa, cõi nước trong mười phương thì ở trong nội tâm. Nếu biết 10 phương cõi nước đều từ nội tâm thì tâm cảnh đập thành một khối, chừng đó ta mặc ý ở trong tâm bỏ uế lấy tịnh, chán đông ưa Tây, không ra ngoài tâm vì thật có nguyện lớn kia, chắc chắn đức Phật đến tiếp dẫn nên cầu đều được toại nguyện. Nếu nói cõi nước trong mười phương là cảnh ngoài tâm thì đập thành hai phía, nên vừa động niệm liền trái pháp thể, liền mất diệu dụng, chẳng được tự tâm, dùng tánh sẳn đầy đủ của Phật trở thành không có lực dụng, nên tuy có cầu mà không được. Lại nữa, cái vọng tâm có là cái duyên ảnh hư vọng, lầm cho là ở trong sắc thân, không có cõi để sanh, chơn tâm dung chứa tất cả cõi nước, vốn sẳn có đủ y báo chánh báo cõi Cực lạc cầu đó liền được sanh. Vọng tâm bỏ ngoài chạy vào trong, chơn tâm tức ngoài là trong, trong không có ngoài nên cầu Phật quả hữu tướng tức cầu tự tâm. Vọng tâm chạy vào trong chẳng phải thật, nên cầu trong không có chủ thể chỉ duyên theo ảnh chẳng thấy  tự tâm, vọng tâm chia tâm và cảnh rõ ràng còn chơn tâm chính tâm là cảnh; vọng tâm sanh diệt không chỗ y cứ, chơn tâm chẳng động chẳng lai; vọng tâm ở nhân không có quả trước sau sanh diệt; chơn tâm nhân quả nhất trí, tánh tu giao triệt. Nên biết từ chơn tâm mà cầu hoặc vọng tâm mà cầu rất là sai khác. Nếu luận cho hết thì dù trải qua số kiếp cũng không hết, càng luận thì như trời vực cách xa. Luận về thể thì chơn tâm tròn đủ thập hư, còn vọng tâm chỉ ở trong thân ngũ uẩn. Luận về dụng thì chơn tâm ngay vượt khỏi Ta bà, dứt hẳn sanh tử, còn vọng tâm mà cầu như lấy cát muốn nấu thàn`h cơm, trãi qua số kiếp khó thành. Vì thế, hành giả phát Bồ đề Tâm cầu sanh Tịnh độ, đâu nên chỉ cầu vọng tâm duyên ảnh của tự thân mà không cầu ông Phật thật ở Tây phương, thật là điều đáng thương? Như người muốn về Tây mà mặt cứ theo đông, muốn leo lên cao mà cứ khư khư ôm đá, vạch nước tìm lửa, moi lửa tìm nước làm sao có được!

Thương thay cho người đời nay, không biết chơn tâm trùm khắp cả chỗ, lấy sắc hiển thể vọng nhận duyên trần cảnh tự cho là bản tánh, đó là điều lầm lớn, như người nhận giặc làm con, tiền bạc trong nhà chắc bị tiêu diệt, người vọng nhận ảnh sự phân biệt mà cho là tâm cũng như thế! Nếu hoặc biết con là giặc thì giặc không làm hại được. Biết ý phân biệt là vọng thì vọng làm sao hại được mình, chỉ không nhận được nó là y chánh cõi Cực lạc thôi.

Pháp Trí Đại Sư dạy: "Sở dĩ có chỗ chỉ vọng tức là chơn hoặc nói quán tâm là quán Phật hoàn toàn không có ý bác thật cảnh y chánh cõi Cực lạc, vì sao đời này bọn tà kiến nổi dậy, bọn ma dấy động, phá diệt Phật pháp, đoạn hột giống Phật, vọng nói cõi Cực lạc ở trong tâm duyên ảnh của ta mà không chịu cầu sanh Tây phương, thật là điên đảo rất nhiều. Những kẻ phá hoại kia chưa nghe chánh pháp nên đem tà kiến này mật trao truyền cho nhau, làm người mê lầm, tuy khó tránh khỏi khổ báo địa ngục chẳng nói làm chi, còn chúng ta là những kẻ xuất gia đầu tròn áo vuông nếu đồng kiến giải với người mê lầm thật đáng thương tiếc, nếu thật vì sanh tử thì tà thuyết này là một điều trở ngại của người chướng nặng, ở trong pháp môn niệm Phật không thể tùy thuận được. Chúng ta cần xét kỹ biết rằng cảnh giới vọng tâm duyên ảnh là cảnh giới hư vọng không có thật thể, nếu không thật thể, thì tùy theo cái ngã mà có sanh diệt, liền vọng nhận cho là ngã, nên nói tâm này ở trong sắc thân ở trong thế giới ngày nay, nói thế giới này ở trong hư không. Tánh hư không này rộng lớn không lường, bao hàm các cõi nước như thế thì hư không lớn, cảnh giới thì nhỏ. Tâm thì yếu ớt ở trong thân, một niệm chuyển dời, không thể dấy động.  Như thế đâu có thể dùng một niệm không thể của vọng tâm yếu ớt mà có thể cầu sanh về diệu cảnh cõi Cực lạc y chánh trang nghiêm được. Những việc không thể cầu mà cố gắng cầu, đâu chẳng là một điều mê lầm lớn lắm ư!

Biết rõ được nghĩa này thì biết tánh hư không rộng lớn vô biên, tuy không thể đo lường, nhưng nguồn gốc nó phát xuất từ trong đại giác thanh tịnh tâm của ta, như một mảnh mây điểm ở trong thái hư huống là cái thế giới ở trong hư không ư! huống là sắc thân ở trong thế giới ư! huống là vọng tâm ở trong sắc thân ư! Nên biết vọng tâm do thân nhỏ bé chấp cảnh giới do hư không to lớn tròn đủ nhưng dù nhỏ hay lớn cũng không ngoài bản tâm, nên biết chơn tâm của ta như hư không bao la, còn cái không của vọng thân như không trong lòng chén, tâm ta rộng lớn không bờ mé, trùm khắp 10 phương ba đời tất cả hư không, các cõi nước như vi trần, tất cả chúng sanh sắc thân đều do vọng niệm lại muốn cầu một pháp ở ngoài tâm trót không thể được, làm sao có thể nói Tây phương Cực lạc ở ngoài tâm ư! Dù tạo các thứ vọng tưởng điên đảo cũng không thể rời tâm mà cầu, huống là tịnh hạnh trang nghiêm, sinh về Cực lạc, thoát ly sanh tử mà có thể cầu ngoài tâm được sao?

Kinh nói: “Nhận ngộ trong mê, tối tăm làm không, cái không ở trong chỗ tối tăm kết tối làm sắc, sắc lộn với vọng tưởng, cái tướng của tưởng là thân, các duyên nhóm ở trong thì lay động, buông lung chạy bên ngoài tướng, tối tăm dùng làm tâm tánh, một khi đã mê thì tâm quyết định mê lầm vì trong sắc thân, không biết ngoài sắc thân cho đến núi sông đại địa đều không phải vật ngoài Diệu Minh Chơn Tâm. Ví như bỏ hết trăm ngàn biển lớn chỉ nhận có một hòn bọt biển coi đó là toàn bể cả tràn đầy diệu dụng, người ấy thật là một kẻ mê gắp bội, như nắm tay ta không có gì khác. Diệu Tâm Giác Minh trùm khắp cõi nước ở 10 phương, nuôi dưởng các quốc độ của các Như lai trong 10 phương, trang nghiêm thanh tịnh cõi Diệu Giác Vương. Hư không trong 10 phương sanh ở trong tâm ông như một phiến mây điểm giữa trời xanh, huống là các thế giới ở trong hư không ư”!

Đem nghĩa của đoạn kinh Lăng Nghiêm trên để quán sát thì cõi nước 10 phương hư không y báo chánh báo sắc và tâm ta đều có đủ. Ta nay quyết chí cầu sanh về cõi mà ta có, cầu thấy ông Phật sẳn có làm sao không thành công được, mà nói là cầu bên ngoài. Ta đã nguyện cầu tâm có thể cảm nên Phật kia vì ta mà hiển hiện chính là tự trong nhà ta vốn có Tâm và Phật hiển hiện. Tâm Phật đã chơn thật thì sao gọi là cầu bên ngoài. Nếu đã không cầu từ bên ngoài thì Đức Phật kia hiện ra, tức là tâm ta hiện ra, khi tâm ta hiện ra, thì Đức Phật kia cũng hiện ra, như thế tâm ta tức là tâm đức Phật kia, đức Phật kia tức là Phật của Tâm ta một thể không hai, vì tánh vốn viên dung. Vì sao có thể ông Phật cõi Tây phương Cực lạc trong tâm kia mà vọng chấp riêng có ông Phật Duy Tâm ư!

Có người lại hỏi: “Tuy là vọng tâm trong ấy cũng có đủ pháp y báo và chánh báo, hà tất bảo người cầu cảnh ở ngoài?”.

Đáp: “Vọng tâm dù có đủ tất cả pháp y và chánh đâu chẳng đủ Tây phương Cực lạc, nếu biết Tây phương Cực lạc là một thật cảnh như cõi Ta bà có thể cầu vì tâm có đủ. Nếu nói tâm chơn như này thì ngoài tâm không có cảnh thật, cảnh đây chỉ là hư tưởng của vọng tâm, làm sao có thật mà gọi là tâm có đầy đủ Tâm chánh là cảnh gọi là chơn tâm, tâm lìa cảnh gọi là vọng tâm, nên chơn vọng tuy đồng, chính sự ly cảnh mà có sai khác nên nói chính thì được, ly thì mất, chính (tức) phải ly quấy, ý chỉ ấy rõ ràng. Cũng như Pháp sư Thiếu Khương khi niệm Phật mỗi câu có một vị Phật từ miệng hiện ra, tiếp nối như vòng châu, vẫn còn đủ tướng, làm cho chúng trong hội niệm Phật đều được thấy. Phật đã có tướng thì cõi Phật làm sao không có thật. Nếu nói sự thì có,  còn lý thì không, hoặc nói mỗi nơi đều là Tịnh độ, thật đáng thương thay! Hạng người này mê lầm sâu khó bỏ. Ngày xưa, Thiền Sư Nam Dương Quốc sư vì thiền khách đề cử công án "vô tình thuyết pháp", tuy không chuyên về chỉ thú Tịnh độ, nhưng cũng đau thương đời mạt hướng theo duyên ảnh mà cầu Phật, đủ để giải rõ”.

 

3. Quở trách việc hiểu lầm

Niệm Phật Tam Muội gọi là vua của các Tam muọi vì cảnh giới rất sâu xa, người trí kém khó hiểu được cứu kính. Từ xưa đến nay, các Đại sư truyền trao đều có chỗ chẳng đồng. Tông Thiên Thai diễn tả rất đầy đủ, Tông Hiền Thủ mỗi vị đều dẫn giải chỗ sở trường cho đến Thiền Tông của chúng ta càng hiển bày rành rõ. Chỉ vì kẻ hậu học căn cơ nhỏ hẹp, chưa được nẽo về, đã chẳng vào được cổng làm sao có thể vào thất, tìm cửa chưa được nên chỗ thấy nhiều đường, bèn đem Đại sư Lục Tổ của Thiền tông chỗ nói Tịnh độ ở trong Kinh Pháp Bảo Đàn, với ý thức mù mờ, tùy theo ngôn ngữ mà sanh dị giải, nói rằng không có Tịnh độ, chẳng cần cầu sanh; mà không biết rằng Đại sư của chúng ta, lời nói tùy theo kẻ đương cơ, thật nghĩa luôn luôn phù hợp với ý chỉ của kinh. Dù có theo lời ngài nói đi nữa ngài cũng đã dạy: "Tịnh độ không cầu sanh", lời đó rõ ràng không phủ nhận Tịnh độ. Tịnh độ đã có thì việc cầu sanh lý ấy đã rõ ràng. Vì sao những kẻ sơ cơ chấp ngón tay cho là mặt nguyệt. Nếu y theo lời nói của Đại sư: "Người mê niệm Phật cầu sanh về nước kia, người ngộ tự tịnh tâm mình. Lại nói: người phương Đông chỉ tâm tịnh tức vô tội, tuy người ở phương Tây tâm không tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh Tây phương, người Tây phương tạo tội cầu sanh nước nào? Kẻ phàm phu chẳng hiểu, chẳng biết tịnh độ trong thân, nguyện đông nguyên tây, người ngộ ở chỗ nào cũng vậy. Lại nói: “Nói Tịnh độ gần hay xa chỉ tùy theo thiện căn của chúng sanh không đồng mà cõi Phật có gần có xa khác nhau." Ngài nói không cần cầu sanh, cốt yếu dạy chúng sanh vĩnh viễn dứt 10 điều ác, tám điều tà, tu đủ mười Thiện, bát Chánh. Lại chỉ chỗ chí diệu của tâm địa không lìa thân này, chỉ mê ngộ có khác. Nếu ngộ thì thường làm từ bi, hỷ xả, hay làm cho thân thiện chánh trực, bình đẳng, nếu được như vậy tức là Quan Âm, Thế Chí, Thích Ca, Di Đà. Nếu mê thì phân biệt nhân, ngã, tâm tà, hư vọng, trần lao khác nhau tức là cảnh núi Tu Di, biển nước, trời, rồng, quỷ, địa ngục.Nay hiểu rõ ý chỉ của Đại sư là chỉ tịnh thân mình thì theo đó ở chỗ nào cũng tịnh, thật cùng trên hội Duy Na chân Phật bấm xuống đất, biến cõi uế thành cõi tịnh. Tất cả đại chúng trong hội đều tự thấy mình ngồi trên hoa sen báu, nghĩa ấy thật không hai. Vì thế kinh nói tùy theo tâm mình tịnh thì cõi Phật tịnh. Điều thuyết minh ấy đủ cho thấy lời bày giải của Đại sư, đâu chẳng hợp với tâm Phật, phù hợp hoàn toàn ý chỉ kinh điển. Chỉ vì các bậc Thánh nhân thuyết pháp có chỗ ngắn (giải) biểu hiện (biểu) chẳng đồng, người chưa đến địa vị ấy thì đừng dẫn những lời ngăn dạy mà tự dối mình. Huống chi trong Đại tạng giáo điển khi nói lời ngăn dạy thì tất cả đều chẳng phải (phi) cần gì cầu sanh. Hoặc khi nói biểu hiện thì tất cả đều phải (thị) cần phải cầu sanh. Hai điều thuyết pháp này đồng từ miệng Phật nói ra, nghĩa nó không hề sai khác. Đâu có thể thiên chấp lời nói ngăn dạy, liền bỏ lời nói biểu hiện ý nghĩa cầu sanh tịnh độ. Nếu quả thực Đại sư nói thẳng về độ, không cần bỏ uế lấy tịnh mà chỉ cần tịnh tâm mình thôi, thì ngài phải nói với mọi người chỉ có tâm tịnh mà thôi, không cần bảo người đoạn các nghiệp ác, tu các nghiệp lành làm gì?  Nếu đã bảo mọi người dứt ác làm lành thì đối với độ phải bỏ uế (ác) lấy tịnh (thiện) nghĩa ấy thật rõ ràng.  Cho nên khi Phật nói lời ngăn dạy chính là muốn hiển chỗ hiện bày cầu sanh Tịnh độ.  Khi nói hiện bày chính là muốn từ chỗ ngăn dạy mà biết vô sanh.

Nên biết Đại Sư Tào Khê dạy người nhơn cảnh tâm mình trước tịnh thì báo cảnh tự tịnh chẳng phải cầu sanh là lời ngăn dạy.  Còn Tổ Huệ Viễn ở Lô Sơn dạy người vào báo cảnh Tịnh của Phật thì nhơn của tâm tự tịnh, dạy cần phải cầu sanh là lời biểu hiện.  Phật và Tổ thuyết pháp nhân quả không hai, chẳng trước chẳng sau, hai nghĩa chưa từng lìa nhau;  tuy dạy người chỗ vào không đồng mà thể của pháp vốn một.  Vì sao, người đời nay nghe lời ngăn dạy (giá thuyên) liền cho là phải, nghe nói lời biểu hiện (biểu thuyên) liền cho là quấy, tự sanh ra chứng ngại lui sụt, thật đáng thương.  Không biết rằng đại Sư nói lời giá thuyên này, bảo không cần cầu sanh Tịnh độ chính là muốn hiển bày biểu thuyên dạy cầu sanh Tịnh độ vậy.  Lại nữa như đức Thích Tôn một đời tuyên dương giáo lý, nói ra nhiều thời, nhiều bộ đều là một vị giải thoát.  Nhưng trong khi thuyết pháp về hiển, phần nhiều khen ngợi về hiển giáo.  Trong khi nói ý nghĩa của mật, đặc biệt ca ngợi mật giáo. Các tôn phái căn cứ vào tôn chỉ của mình mà nói riêng phần mình, nhưng Phật đâu có nói riêng chỗ mầu nhiệm, chỉ muốn hợp với căn cơ, làm cho chúng sanh nhận ra thọ trì được nhất chí không do dự. Thời nay nhằm thời tượng Pháp sau cùng, người phò tôn, học giáo đâu phải không chỗ hiển bày. Lục Tổ muốn hoằng dương nhất hạnh tam muội lý phải vượt hẳn các thừa, Tổ Huệ Viễn ở Lô Sơn muốn đơn dương niệm Phật Tam muội, làm cho học giả vượt ngang ba cõi chính là muốn nhiếp hết các cơ. Kẻ hậu học đâu nên vọng sanh thành hai thứ chấp, phải xét kỹ chỗ đó.

Ngài lại nói: "Người phương đông hoặc người phương tây nếu tâm tịnh thì không tội, tâm không tịnh thì có lỗi". Điều đó cho thấy người phương đông cảnh ác thô bạo, Phật đã diệt độ, khó làm cho tâm tịnh được, như những người ở thế tục, nhà lửa đốt cháy muôn lần, dù cố gắng tu cũng bị mất, cũng như hòn đá nhỏ bỏ vào nước liền chìm, nên phải cầu sanh về Tây phương, Phật A Di Đà và Thánh chúng hiện tại, cảnh thù thắng, việc làm dễ dàng, như con đi lạc đã về Phật thân dạy bảo, như người xuất gia ở chùa, duyên lành đầy đủ, không bị thối chuyển. Nên sanh về cõi kia tâm tịnh không có lỗi, như viên đá lớn kia nhờ có thuyền vào nước không chìm. Lại nữa, Đông phương Tây phương lý vốn một thể, quốc độ của đức Phật kia, chẳng phải chỉ có cảnh trí thù thắng, mà quan trọng nhất là đức Phật đang hiện thuyết pháp có thể xoá trừ hết nẽo lầm, tội lỗi, tâm chắc được thanh tịnh, bậc Thánh có thể tiến lên, nên cần phải xa lìa cõi Ta bà, cầu sanh về Cực lạc. Nếu bậc căn khí thù thắng như đức Lục Tổ Tào Khê còn có thể vào trong bể khổ sinh tử, tìm tiếng kêu cứu khổ, giáo hoá chúng sanh, cần gì phải cầu sanh! Nếu người nào đạo lực chưa đủ, cố bắt chước bậc Tiên giác, tự mình không cầu vãng sanh và dạy người không cầu vãng sanh, chắc chắn như người cứu kẻ chết chìm, mà mình không biết bơi và không có thuyền bè thì cả hai đều chết đuối, thật chẳng đáng thương ư! Lại nữa, Đại sư của chúng ta là Tổ Đắc Pháp thứ sáu hoằng truyền Thiền Tông, lời nói đều hiển bày Thiền của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Như nói: "Tâm đã bình đẳng thì nhọc công trì giới làm gì, Hạnh đã ngay thẳng cần gì tu thiền". Nếu y theo lời nói đó rồi nói không cần trì giới, hoặc tu Thiền là sai. Họ đâu biết rằng, Tâm nếu bình đẳng đúng nghĩa thì ta đối với vật không có gì không bình đẳng. Nếu ta và vật bình đẳng thì đâu có thể giết nó để nuôi dưỡng mình, trộm của họ để lợi cho mình, chia tướng nam nữ để làm việc dâm dục, nói lời không chơn thật, uống rượu để làm cho mình say đắm mê muội. Tâm bình đã không có tướng phạm các giới này thì tất cả giới đều từ trong ấy. Đâu có thể hoàn toàn không cần trì giới mà đi cướp của, giết người, làm các tội ác mà nói là tâm bình được sao? Nên biết rằng, câu nói: "Tâm bình nhọc gì trì giới" chính là biểu bày hết đại giới.

Thiền là tiếng Phạn dịch từ Tịnh lự (sạch lo nghĩ) hay gọi chánh định hoặc gọi Nhất Hạnh Tam Muội. Đâu có người nói hạnh trực mà tâm họ lo nghĩ không yên, dù ở chỗ định cũng không ngay thẳng, việc làm không thống nhất. Nên biết câu nào cần tu thiền, chính là chỉ chỗ cao siêu của Thiền định. Nên biết Đại sư làm hạnh vượt hẳn trời người, ở trong thời tượng pháp, sợ kẻ hậu học chấp pháp làm ô nhiễm giới thể nên ở trong giới luật nói: "Không nhọc trì giới"; ở trong cảnh thiền nói: "Nhờ dụng tu thiền". Theo ý chỉ đó nên chỗ phải cầu sanh Tịnh độ mà nói không cầu sanh. Người học đời sau lại trở nên chấp trước mê lầm, nói thật chẳng cần cầu sanh là một điều rất ngu dốt, vì chỗ nói của đai Sư là khuyên ngược lại để người học nhận ra chỗ thật tế. Chỗ dạy của chư Tổ có khi nói thuận, có khi nói nghịch, đều là cách chỉ cho người ta cách tiến tu mà thôi. Nói thuận hay nghịch đều theo căn cơ đương thời, thật không có pháp thiệt. Như nói "gặp Phật giết Phật" chỉ là giết vọng tưởng hiện Phật, đâu phải giết Phật thiệt. Nếu lời nói giết Phật là thiệt thì Bồ Tát Văn Thù cầm kiếm cũng là giết Phật thật ư? Nếu người theo lời nói của cổ nhân mà không biết tâm của cổ nhân, nói không cần cầu sanh Tịnh độ cho là thật. Đó chính là những người đem thượng vị đề hồ quý báu ở trong đời cho là thuốc độc. Cho nên Đại sư nói lý viên diệu của Ba đề kia ở trong chỗ có sanh mà nói vô sanh, ở trong chỗ vô tu chứng kia mà nói có tu chứng, hai bên không đặng, trung đạo chẳng còn, làm cho pháp môn giáo thừa viên đốn tự nhiên hiện rõ. Như treo mặt nhật mặt nguyệt trên đường tối, ở đâu cũng chiếu sáng, nên nói Thiền tôn đối với chỉ thú của Niệm Phật Tam muội có chỗ còn chưa cùng tận. Vì thế Đạo Xước ở Hà Tây, Thiện Đạo ở Trường An, Tín Nguyên Thiền sư, Trí Giác, Từ Giác đều là những người nối nghiệp Thiền Tông, hoằng dương Tịnh Độ. Ngài Đạo Trân, Hoài Ngọc thực hành Tịnh độ và dạy người. Thiền Sư Viên Chiếu và các Thiền sư bạn bè tu Tịnh độ đều có chứng nghiệm lợi ích. Huống chi, trong Bách Trượng Thanh Quy có ghi, cầu an cho tăng bệnh phải tụng kinh Tịnh độ và niệm Phật, đưa vong Tăng Trà Tỳ, phải xưng Phật danh hiệu, chú nguyện vãng sanh. Các việc ấy còn chép trong Thanh Quy thiền đâu phải nói dối.

4. Nêu điểm chính của Quán Huệ Minh Tâm

Niệm Phật tam muội thật có khả năng đưa tất cả chúng sanh ra ngoài ba cõi, đường tắt vãng sanh về Cực lạc. Ban đầu đức Phật ở non Linh Thứu tuyên dương, kế đó ở Lô Sơn, Huệ Viễn Đại sư tiếp thưa nghi quỹ, mười phương khen ngợi, các tổ truyền trì. Từ xưa đến nay, Tổ của các Tôn hoằng dương Tịnh độ, chỗ nói không phải một, nên hàng hậu học khó thông suốt. Duy có pháp môn Tam quán của Thiên Thai Tông lý trùm các kinh, vượt hẳn ngôn luận tầm thường. Nếu người theo giáo pháp này mà được chỉ thú, thật lợi ích không thể nghĩ bàn, nên người hậu học nên lấy ba quán này làm thuyền bè để thẳng đến bờ kia.

Ba quán là một niệm tức không, tức giã, tức trung. Khi còn trụ thế, đức Như Lai khéo léo hiển bày, đến Trí Giả Đại sư mới hoàn toàn viên ngộ. Nên nói không thời tất cả đều không, giả thời tất cả đều giả, trung thời tất cả đều trung, cùng phá cùng lập, cùng chẳng phải phá lập, tròn đầy không có đối đải, khó nghĩ khó bàn, tóm huyền môn của các bộ (kinh) làm sáng tỏ cảnh trí của Phật và chúng sanh, tột cùng nguồn cội của muôn pháp, hiển pháp viên tu của Tịnh Tông. Niệm Phật tam muội nếu không có pháp môn Tam quán này thì có chỗ chưa tròn đủ.

Đại sư Tứ Minh phát minh diệu chỉ để dạy hàng hậu học, nay dùng lời ấy để cầu sanh Tịnh độ, trong không ngoài tiểu thiện của thế gian và việc quán tưởng kia, nếu không dùng pháp môn đại thừa viên diệu tam quán kia để giải thích áo chỉ của thập lục quán kinh làm cho người mở tỏ để phát khởi việc thực hành thì nhờ vào đâu mà được vãng sanh.

Thập lục Quán có quán trước tiên là Quán mặt trời lặn, quán này mục đích nêu lên cách quán đơn giản để đưa tưởng hướng về đức Phật kia. Người mới phát tâm thực hành tuy biết căn trần đều là pháp giới, nhưng tâm tưởng vẫn còn yếu kém, nên cảnh thù thắng khó hiện, cho nên, đức Như Lai lập ra phương tiện lạ, dùng mặt trời lặn làm cảnh tưởng, làm cho khi khởi quán mặt nhật có thể hiển được chỗ mầu nhiệm, biết rằng: Tâm năng tưởng này vốn đủ tất cả các pháp y báo và chánh báo. Nay dùng cái tâm quán mặt nhật này duyên theo mặt nhật ở trong chính tâm mình, làm cho bản tánh của mặt nhật hiện rõ ra trước mắt. Đây là dùng tâm pháp giới để duyên cảnh pháp giới, từ đó khởi ra mặt nhật pháp giới. Tất cả đều là pháp giới, thì đâu chẳng phải chính là không giả, trong đây chỉ chung cho đầy đủ, nếu luận ròng ba quán thành công phu nhật tưởng thì dùng căn và cảnh không tịch thì tâm nhật không trở ngại, dùng duyên khởi giả lập, nên tưởng liên tục làm mặt nhật sanh ra, dùng tâm nhật này đâu là pháp giới, nên đương thể hiện nhật quán liền thành, thì tam quán đồng ở chỗ nhất tâm, chẳng phải một chẳng phải ba mà là một mà ba, không thể nghĩ bàn, nhật quán như thế, các quán khác cũng vậy. Nên biết, 16 pháp quán đều dùng phương pháp tưởng tướng không giả trung của Nhất tâm tam quán. Kế đó, quán nước trong lại tưởng thành băng, bởi vì cõi kia lấy lưu ly làm đất, đất ấy khó tưởng, nên dạy tưởng băng, tưởng băng đã thành thì đất báu cõi kia có thể thấy được. Như trên dùng nhìn thấy mặt nhật và băng là dùng phương tiện, kế đó quán đất, quán cây, quán ao, trong 16 phép quán, 6 quán đầu là quán y báo cõi tịnh độ. Quán toà hoa là vật thân y của tam thánh. Quán Bảo tượng là chơn thể của tam thánh. Muốn quán Phật trước phải quán toà hoa, Phật thật khó quán, trước phải quán tượng. Từ quán toà đến tập quán thứ 13, bảy quán này đều là quán chánh báo của cõi Cực lạc. Còn 3 quán sau cùng nói rõ về người sanh về ba bậc chín phẩm của người từ cõi này sanh về cõi Cực lạc. Vì người tu nhân không đồng cho nên cảm quả có sai khác. Từ Ba quán này cũng để hành giả biết chỗ cao thấp của 3 phẩm để bỏ trung hạ mà tu tập bậc thượng phẩm để được sanh về bậc thượng.

Các pháp quán đều do kinh chỉ cảnh tướng, nhớ giữ trong lòng làm cảnh sở quán, nhưng nên biết rằng ở tâm ta vốn đủ pháp quán này, mượn cảnh để tưởng thành, phát minh ra tâm mắt. Nên Đề kinh nói: Phật nói kinh Quán Vô Lượng Thọ là chỉ thẳng cảnh sở quán của Phật này, chỉ chánh báo thu nhiếp y báo, thuật hóa chủ để bao gồm đồ chúng, quán tuy có 16, nói chữ Phật là gồm hết. Vì thế cần phải quán đức Phật kia. Muốn quán Phật kia trước phải quán sắc thân Phật kia to lớn như hư không, đoan nghiêm vi diệu, mỗi một phần của thân có 84.000 tướng, trong mỗi tướng có 84.000 vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp có 84.000 luồng ánh sáng, trong mỗi ánh sáng có nhiều bể thế giới. Trong bể thế giới kia có tất cả chư Phật, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác, Tăng chúng số nhiều như vi trần, rộng lớn không thể nói hết. Cần phải nhớ tưởng làm cho tâm mắt thấy, thấy được việc ấy rồi, liền thấy được 10 phương chư Phật, vì thấy được chư Phật nên gọi là niệm Phật tam muội. Làm quán này gọi là quán tất cả thân Phật, vì quán thân Phật nên cũng thấy được tâm Phật. Tâm Phật chính là đại từ bi, là vô duyên từ tiếp dẫn chúng sanh. Người quán pháp này thành tựu, khi bỏ báo thân, ở đời sau sanh ra trước Phật được vô sanh nhẫn.