Phật Tổ Đạo Ảnh

Hòa Thượng Tuyên Hóa 



bookGiới thiệu:


Chư Tổ, tuy Ấn, Hoa có khác, nhưng cùng vẻ thiên dung đạo mạo, rờ rỡ sáng ngời, khiến người chiêm ngưỡng, vơi sạch lòng trần, thấy tướng liền ngộ tâm. Chỉ trong sớm tối, ngàn năm cùng quay về với chư Tổ trong đại quang minh tạng. Chẳng có đạo ảnh thì lấy gì làm nên chuyện đó? Khoảng đời Hồng-Vũ, một số ham thích đạo, cả tăng và tục, cùng nhau miêu họa đạo ảnh Phật và Tổ, từ tôn giả Đại Ca Diếp đến các vị tôn túc cổ sơ trong nước, tính ra là 120 vị, rồi tàng trữ tại núi Ngưu-Thủ phía nam kinh đô. Nét bút tinh thần, phong độ cao khiết, nếu chẳng do sự kỳ diệu của tâm tư, cảm ứng đến chỗ u linh thì dễ gì có được bút pháp như vậy !  



Thích-ca Mâu-ni Văn Phật

 

 

Phiên âm :

Phật thị sanh ư trung Thiên Trúc quốc, vi Tịnh Phạn vương chi tử. Tầm xả Chuyển Luân Thánh Vương vị xuất gia, thành vô thượng đạo, chuyển đại pháp luân. Kỳ hậu thất thập cửu tuế, thùy bát-niết-bàn. Nãi dĩ chánh pháp nhãn tạng, phó kỳ cao đệ đệ tử Ma-ha Ca-Diếp, tịnh sắc A-Nan, phó nhị truyền hoá. Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê y, lịnh đại Ca-Diếp chuyển phó đương lai bổ xứ Di-Lặc Phật. Kỳ thuyết kệ viết : Pháp bổn vô pháp, vô pháp pháp diệc pháp ; kim phó vô pháp thời, pháp pháp hà tằng pháp ?

Dịch :

Phật thị sanh tại miền trung nước Thiên Trúc, làm con đức vua Tịnh Phạn. Ngài sớm từ bỏ ngôi vị Chuyển luân Thánh vương để xuất gia, rồi thành tựu đạo vô thượng và chuyển bánh xe pháp lớn. Về sau, năm bẩy mươi chín tuổi, khi sắp sửa vào niết-bàn, Phật giao chánh pháp nhãn tạng cho cao đệ Ma-ha Ca Diếp, đồng thời bảo A-Nan phải phụ giúp để truyền bá chánh pháp. Phật còn đem áo tăng-già-lê vàng đưa cho Ma-ha Ca Diếp giữ để ngày sau giao lại cho đức Di-Lặc tức vị Phật tương lai. Phật nói bài kệ như sau : Pháp bổn lai chẳng pháp, cái pháp chẳng pháp đó cũng là pháp, nay giao cái pháp chẳng pháp, pháp đó chẳng pháp gì ?

 

Tán

Vạn đức trang nghiêm             

Nhất trần bất lập

Tứ thập cửu niên

Thái sát lang tạ

Mạt hậu niêm hoa                    

Tiếu đảo Ca-Diếp

Chánh pháp nhãn tạng             

Thiên thánh bất thức

Dịch :

Vạn đức trang nghiêm

Chẳng bợn nhiễm ô

Bốn chín năm ròng

Công lao khó nhọc

Cầm hoa mỉm cười

Truyền thừa Ca-Diếp

Chánh pháp nhãn tạng

Thánh Trời chẳng hay

 

Kệ :

Đâu Suất giáng sanh đế vương gia

Tứ môn du tất khí phồn hoa

Thuyết pháp diễn giáo hóa quần phẩm

Từ bi hỷ xả độ chúng hiệp

Vạn đức trang nghiêm phước huệ tu

Nhất trần bất lập tịnh tự tha

Phật tăng truyền thừa mãn thiên hạ

Nhiếp thọ hữu tình sổ đạo ma

(Tuyên Công thượng nhân tác)

Dịch :

Đâu Xuất giáng sanh làm hoàng tử

 

 

Giảng thoại

 

Phật thị sanh ư trung Thiên Trúc quốc, vi Tịnh Phạn vương chi tử : Phật thị sanh tại thành Xá-vệ, miền trung nước Thiên Trúc, tức Ấn-độ ngày nay, là thái tử, con vua Tịnh Phạn.

Tầm xả Chuyển Luân Thánh Vương vị xuất gia, thành vô thượng đạo: Chữ 'tầm' ở đây bao hàm ý nghĩa là chẳng bao lâu. Phật sanh ra từ chốn cung vàng, nhưng đối với 5 món ham thích của thế gian như tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, Phật không màng tới, cho nên, chẳng bao lâu, Phật từ bỏ luôn địa vị của Chuyển Luân Thánh Vương, bởi nếu không xuất gia thì vương vị đó là của Phật trong tương lai. Ngài bỏ lại hết, ra đi tu hành, đạt đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, theo tiếng Phạn gọi là a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Chuyển đại pháp luân : Sau khi thành đạo, Phật giảng kinh thuyết pháp, chuyển bánh xe pháp lớn để giáo hóa chúng sanh.

 Kỳ hậu thất thập cửu tuế, thùy bát-niết-bàn : Về sau, tới bảy mươi chín tuổi, Phật nhập diệt, hay gọi là viên tịch.

 Nãi dĩ chánh pháp nhãn tạng, phó kỳ cao đệ đệ tử Ma-ha Ca Diếp : Cao đệ nghĩa là đệ tử nhiều tuổi. Phật giao chánh pháp nhãn tạng cho vị đệ tử nhiều tuổi nhất là Ma-ha Ca-Diếp, tuy tôn giả chưa hẳn là đại đệ tử của Phật. Vậy người được truyền pháp chính là Đại Ca Diếp, vị tôn giả tu hạnh đầu đà.

 Tịnh sắc A-Nan phó nhị truyền hóa.  Chữ 'sắc' nghĩa là dặn bảo; 'phó' là phụ vào; 'nhị' là hai. Phật đồng thời bảo tôn giả A-Nan phụ giúp tôn giả Ca-Diếp trong việc hoằng dương Phật pháp.

Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê y, lịnh đại Ca-Diếp chuyển phó đương lai bổ xứ Di-Lặc Phật. Tăng-già-lê là áo của Tổ, là y bát của Phật. Phật dặn dò tôn giả Ca-Diếp vào núi Kê Túc ở Vân Nam nhập định cho đến khi đức Phật Di Lặc ra đời để giao lại y bát cho đức Di Lặc.

Kỳ thuyết kệ viết : Kế đó, Phật đọc cho tôn giả Ca-Diếp nghe một bài kệ truyền pháp.

 Pháp bổn pháp vô pháp : Thế nào gọi là pháp ? Pháp bổn lai là không có pháp nào để nói.

Vô pháp pháp diệc pháp : Tuy nhiên, trong cái không pháp, chúng ta nói tới cái pháp đó.

Kim phó vô pháp thời : Nay, truyền lại y bát này là truyền pháp tâm ấn, tức là pháp chẳng có hình tướng.

Pháp pháp hà tằng pháp ?: Cái pháp ở trong pháp, là cái pháp gì ? Chẳng có gì hết ! 'Bổn lai chẳng có vật gì, còn chỗ nào là bám bụi ?'

 

Tán

 

Vạn đức trang nghiêm, nhất trần bất lập : Có câu nói : 'tam kỳ tu phước huệ, bách kiếp chủng tướng hảo', Phật tu phước, tu huệ, tu đến hàng vạn đức hạnh, mt chút bụi nhơ cũng không bợn.

Tứ thập cửu niên, thái sát lang tạ : Trong thời gian bốn mươi chín năm, công lao khó nhọc không sao kể siết, bởi cứu độ chúng sanh chẳng phải là điều dễ dàng.

Mạt hậu niêm hoa, tiếu đảo Ca-Diếp : Về sau, một hôm Phật cầm bông sen vàng giơ lên, đối trước đại chúng mỉm cười. Hết thảy đệ tử không một ai nói lên điều gì, chỉ riêng có tôn giả Ca-Diếp nở mặt, rạng rỡ mỉm cười. Thấy vậy Phật biết tôn giả Ca Diếp đã hiểu ý Phật. Ngài bèn bảo đại chúng : 'Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, ta đã giao cho Ma-ha Ca Diếp !', ý nói pháp mầu đó đã được Phật truyền lại cho tôn giả.

Chánh pháp nhãn tạng, thiên thánh bất thức : Chánh pháp nhãn tạng là loại pháp quý báu vô cùng cho đến các thánh hiền cũng không nhận ra được.

 

Kệ

Đâu Suất giáng sanh đế vương gia : Đức Phật Thích-ca giáng trần từ nội viện của cung trời Đâu Suất. Đây là bổ xứ của Phật. Bất cứ ai, muốn thành Phật cũng phải trú ở ở đây một thời gian trước khi xuống thế. Vậy, từ nội viện cung trời Đâu Suất, Phật đã giáng sanh trong một gia đình đế vương, đó là gia đình vua Tịnh Phạn nước Xá-vệ.

Tứ môn du tất khí phồn hoa : Một hôm Ngài dạo chơi ngoài bốn cổng thành, mắt chứng kiến các  cảnh khổ của sanh, già, bệnh, chết, nhận ra rằng cuộc sống thế gian chẳng có gì là hay ho. Do sẵn túc căn, Phật quyết ý xuất gia, bỏ lại hết các thứ vinh hoa phú quý của người đời.

Thuyết pháp diễn giáo hóa quần phẩm : Để giáo hóa hết thảy chúng sanh Phật thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, giảng kinh trong ba trăm pháp hội 

Từ bi hỷ xả độ chúng hiệp : Phật dùng 'tứ vô lượng tâm', tức là bốn loại tâm lượng rộng lớn để giáo hóa hết thảy các chúng sanh có duyên với pháp. Tứ vô lượng tâm là từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm.

Vạn đức trang nghiêm phước huệ tu : Phật có vạn đức trang nghiêm, trải qua 'tam kỳ tu phước huệ'. Ngài tu trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp, tu phước và tu huệ. A-tăng-kỳ kiếp nghĩa là vô lượng số kiếp, tức là bao nhiêu kiếp không thể kể hết số lượng. Đại a-tăng-kỳ kiếp là vô số lượng kiếp trong cái vô số lượng. Trong suốt thời gian đó, Phật đã tu phước, tu huệ, ý nói không có phước nhỏ nào mà Ngài không tu, không  có loại trí huệ nhỏ nào mà không tập. Phật lại có 'bách kiếp chủng tướng hảo', bởi trong thời gian cả trăm đại kiếp Ngài vun trồng tướng tốt sáng rực, trí huệ sáng rực, bởi vậy mới nói Phật có vạn đức trang nghiêm. Tóm lại, công đúc tu phước của Ngài đến chỗ viên mãn, huệ đến chỗ viên mãn, cả phước lẫn huệ đều đầy đủ.

Nhất trần bất lập tịnh tự tha : Ở nơi Phật, không những một chút ô nhiễm cũng không bợn, các dục niệm hoàn toàn thanh tịnh, mà Ngài còn giáo hóa mọi người đến chỗ được thanh tịnh.

 Phật tăng truyền thừa mãn thiên hạ : Phật truyền lại y bát cho tăng, tức là giữa hai bên đã có sự tiếp nối. Điều này nói lên ý nghĩa là sự truyền thừa giáo pháp là điều bắt buộc, chớ không phải ai muốn làm sao thì làm, mà còn phải truyền pháp lại cho đời sau. 'Mãn thiên hạ' nghĩa là đệ tử của Phật ở khắp các nơi trong thiên hạ, chỗ nào cũng có.

Nhiếp thọ hữu tình sổ đạo ma : 'Nhiếp thọ' là dạy bảo, ý nói  giáo hóa chúng sanh, cứu độ chúng sanh đến chỗ thoát cảnh sanh tử. Số lượng chúng sanh được cứu độ thì nhiều lắm, kể ra thì đông như hạt mè, hạt thóc vậy !

 

Bài giảng ngày mồng 2 tháng 3 năm 1984

Tuyên Công Thượng Nhân 



Sơ Tổ: Tôn Giả Ma-Ha Ca-Diếp

Phiên âm Hán Việt:

Tôn giả bổn Ma-kiệt-đà quốc nhân, xuất Ba-la-môn thị, kỳ hình kim sắc. Kiến Phật xuất gia, ký độ chư hữu. Phật ư chúng trung xưng vi đệ nhất. Nhất nhật, Phật ư Linh sơn hội thượng niêm xuất nhất chi kim sắc bát-la hoa thị chúng. Thời đại chúng mặc nhiên, duy tôn giả phá nhan vi tiếu. Phật viết : ‘Ngô hữu chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngọai biệt truyền, phó chúc Ma-ha Ca-Diếp.’ Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê chúc viết : ‘Chuyển thọ đương lai Từ thị Phật ‘. Tôn giả tác lễ viết : ‘Cung y Phật sắc’. Hậu tôn giả dĩ pháp chuyển phó A-Nan, tức trì tăng-già-lê nhập Kê-Túc sơn nhập định, dĩ sỉ Từ thị hạ sanh.

 

Dịch :               Sơ Tổ Tôn giả Ma-ha Ca-Diếp

Tôn giả là người nước Ma-kiệt-đà, thuộc dòng Bà-la-môn, mang thân hình sắc vàng. Khi gặp Phật, tôn giả xin xuất gia, mong độ các chúng sanh. Giữa đại chúng Phật gọi tôn giả là đệ tử bậc nhất. Một hôm, tại hội Linh Sơn, Phật cầm bông hoa bát-la sắc vàng nhìn đại chúng. Lúc ấy, mọi người đều lặng yên, duy một mình tôn giả thì nét mặt rạng lên mỉm cười. Phật bảo : ‘Ta có chánh pháp nhãn tạng, tâm nhiệm mầu niết bàn, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập văn tự, đặc biệt truyền ngòai giáo lý, giao phó cho Ma-ha Ca-Diếp.’ Phật còn đưa áo tăng-già-lê vàng cho tôn giả mà dặn rằng : ‘Hãy chuyển lại cho đức Phật Từ thị.’ Tôn giả đáp lễ nói : ‘Xin vâng lời Phật dạy.’ Về sau, tôn giả truyền pháp cho A-Nan rồi mang tấm áo tăng-già-lê đi vào núi Kê-Túc nhập định, chờ ngày đức Phật Từ thị hạ sanh.

 

Tán  

Phá nhan vi tiếu

Đề hồ độc dược

Kim lan cà-sa

Hà xứ an trước

Truyền cá thập ma

Tương thố tựu thố

Ương họa nhi tôn

Quy mao thố giác

Dịch :

Mặt nở mỉm cười

Đề hồ thuốc độc

Cà sa sợi vàng

Cất ở nơi nao ?

Truyền lại cái gì ?

Từ sai đến sai

Gieo họa con cháu

Lông rùa sừng thỏ

                                                                                         

Kệ  

Linh sơn niêm hoa truyền tâm ấn

Phá nhan vi tiếu trực thừa đương

Tổ tổ pháp đăng chiếu sa giới

Tăng tăng huệ mạng mãn đại thiên

Kim sắc đầu đà cà sa tràng

Di Lặc tôn Phật tục thánh điền

Ma-ha Ca Diếp công huân đại

Tận vị lai tế ân vô biên

                      Tuyên Hóa Thượng Nhân tác

 

Dịch :

Linh sơn niêm hoa truyền tâm ấn 

Nở mặt mỉm cười tự đảm đương 

Đèn pháp lan truyền Hằng sa giới 

Huệ mạng tăng già khắp đại thiên 

Cà sa cờ pháp khởi đầu đà 

Di Lặc nối theo gieo ruộng thánh 

Ma-ha Ca-Diếp công lao lớn 

Đến tận vị lai ơn vô biên 

 

Thượng nhân Tuyên Hóa soạn 

 

 

                                             GiảngThoại

Bài Truyện

 

Tôn giả : Hai chữ này chỉ Ma-ha Ca-Diếp. ‘Ma-ha’ nghĩa là lớn, nên người ta còn gọi tôn giả là Đại Ca-Diếp. Hiện nay tôn giả vẫn còn sống trên thế gian đó ! Ngài vào núi Kê-Túc ở Vân-Nam nhập định, chờ ngày đức Di-Lặc hạ sanh, đặng có thể truyền lại tấm áo cà sa vàng cho Phật Di-Lặc. Áo này nguyên là của chư Phật truyền lại cho nhau, nên đó là lý do tôn giả vẫn còn sống để chờ ngày ra đời của vị Phật tương lai. Vậy là tính từ ngày ấy đến nay trải qua 2, 3 ngàn năm, tôn giả hãy còn nhập định trong núi kê-Túc đó !  

Bổn Ma-kiệt-đà quốc nhân, xuất Ba-la-môn thị : Ma-kiệt-đà là tên một nước trong xứ Ấn-độ thuở xưa và là nơi mà tôn giả ra đời trong một gia đình thuộc dòng bà-la-môn. Dân Ấn phân ra thành 4 dòng giống và Bà-la-môn là dòng được tôn quý nhất.

Kỳ hình kim sắc : Thân hình của tôn giả sáng rực hào quang, át hết các thứ ánh sáng khác và dường như hào quang đó có khả năng hút trọn mọi nguồn sáng khác. Bất kể là thuộc nguồn sáng nào, ánh đèn, ánh mặt trời, mặt trăng, ánh sao v.v. hễ đến gần tôn giả thì đều bị lu mờ hết ! Bởi vậy Ngài còn được tôn xưng là ‘Ẩm Quang thị’, người uống ánh sáng. Nguyên do nào mà có hiện tượng đó ?

Thuở xa xưa, sau thời đức Phật Tỳ-bà-thi nhập diệt, có một ngôi chùa đổ nát kia, tháp thì nghiêng sụp, tượng Phật thì phơi lộ ra, mặc sức cho nắng mưa vùi dập. Lúc ấy có một cô gái nghèo, trông thấy cảnh chùa tang thương như vậy lấy làm xót xa mới lập nguyện xây chùa và giát vàng tượng Phật. Nhưng, trước cảnh nhà bần cùng, cô gái bèn đi các nơi xin cơm hóa duyên để lấy tiền mua vàng. Trải qua mười năm hóa duyên như vậy, thấy số vàng dành dụm được có thể xây được chùa và trang nghiêm tượng Phật, cô gái đi kiếm một ông thợ có nghề làm vàng, để nhờ ông ta giát vàng tượng Phật. Trước lòng chí thành của cô gái này, người thợ vàng dần thấy hảo cảm với nàng và từ đó sẵn sàng bỏ công sức trang nghiêm tượng Phật mà không đòi tiền công phí nữa. Khi công tác hoàn thành, người thợ vàng cầu hôn với nàng rồi cả hai phát nguyện đời đời kết nghĩa vợ chồng, cùng rủ nhau tu, quy y tam bảo xuất gia liễu đạo.

Tôn giả Đại Ca-Diếp chính là người thợ vàng năm xưa, tuy sống trong cảnh nghèo nàn mà biết phát tâm trang nghiêm tượng Phật, cho nên về sau, đời đời kiếp kiếp cả hai vợ chồng – tỳ-kheo-ni Tử Kim Quang là tên hiệu của người vợ khi xuất gia – đều có thân hình một mầu vàng sáng.

Kiến Phật xuất gia, ký độ chư hữu :Vào thời gian đức Thích Ca ra đời thì tôn giả Ca Diếp đương là một ông già tu ngọai đạo, có rất đông các đệ tử tin theo. Khi gặp Phật, tôn giả tự nhận thấy mình lầm đường, bèn xin bái Phật làm thầy, mặc dầu khi ấy tôn giả đã hơn 120 tuổi đời, sau đó tôn giả xuất gia theo Phật, mong được độ hết thảy các chúng sanh.

Phật ư chúng trung xưng vi đệ nhất : Trước mặt đại chúng Phật tôn xưng Ma-ha Ca-Diếp là đại đệ tử bậc nhất.

Nhất nhật, Phật ư Linh sơn hội thượng niêm xuất nhất chi kim sắc bát-la hoa thị chúng : Một hôm tại núi Linh Thứu, Phật cầm một bông hoa bát-la mầu vàng ngước nhìn mọi người.

Thời đại chúng mặc nhiên : Lúc bấy giờ chẳng ai biết đây là ý nghĩa gì, không biết nói ra sao cho phải, nên tất cả đều lặng yên.

Duy tôn giả phá nhan vi tiếu : Duy có một mình tôn giả là mỉm cười. Dung mạo của tôn giả vốn là trang nghiêm, cử chỉ thì trịnh trọng, vậy mà ngay khi ấy, nét mặt tôn giả lại rạng ra tươi cười (phá nhan).

Phật viết : ‘Ngô hữu chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, phó chúc Ma-ha Ca-Diếp.’ : Thấy tôn giả mỉm cười, Phật bảo : ‘Nay ta có chánh pháp nhãn tạng, đó là tâm nhiệm mầu của niết-bàn, chẳng sanh, chẳng diệt, các vị nghĩ thế nào ? Nó có hình tướng gì chăng ? Không, nó là vô tướng; Các vị bảo nó chẳng có tướng gì ư ? Nó lại có hình tướng đó ! Cho nên thực tướng là vô tướng, chẳng chỗ nào là chẳng tướng. Đó là một pháp môn vi diệu chẳng thể nghĩ bàn, văn tự không thể tả ra được. Lọai pháp môn mà nay ta chỉ dạy các vị là một thứ đặc biệt truyền thọ ngoài giáo điển và pháp môn đó ta đã truyền cho Ma-ha Ca Diếp rồi !’

 Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê chúc viết : ‘Chuyển thọ đương lai Từ thị Phật’ : Tăng-già-lê tức là áo cà-sa. Phật lại đưa cho tôn giả tấm áo cà-sa của Phật mà nói rằng : ‘Ông hãy giữ gìn tấm áo này đặng ngày sau giao lại cho Phật Từ Thị hay Phật Di-Lặc, tức là vị Phật tương lai’.

Tôn giả tác lễ viết : ‘Cung y Phật sắc’ : Tôn giả Ma-ha Ca Diếp liền đảnh lễ Phật và thưa rằng : ‘Con xin cung kính tuân hành lời dạy của Phật và xin hết lòng gìn giữ áo cà-sa này’

Hậu tôn giả dĩ pháp chuyển phó A-Nan : Về sau, tôn giả truyền lại pháp ấn này, tức chánh pháp nhãn tạng lại cho tôn giả A-Nan (Chú 1) ; tức trì tăng-già-lê nhập Kê-Túc sơn nhập định : tôn giả Ma-ha Ca-Diếp mang áo tăng-già-lê đi vào núi Kê Túc nhập định. Núi Kê Túc thuộc tỉnh Vân Nam, Trung quốc ; dĩ sỉ Từ thị hạ sanh : đẻ chờ ngày đức Phật Di-Lặc ra đời.

 

Bài Tán

Phá nhan vi tiếu

Đề hồ độc dược

Kim lan cà-sa

Hà xứ an trước

Truyền cá thập ma

Tương thố tựu thố

Ương họa nhi tôn

Quy mao thố giác

Phá nhan vi tiếu, đề hồ độc dược : Đức Phật cầm bông hoa, nhìn đại chúng, tôn giả rạng nét mặt mỉm cười. Đề hồ vốn là một thứ sữa tuyệt diệu, nhưng chúng sanh thấy nó là thuốc độc.

Kim lan cà-sa, hà xứ an trước : Tấm áo cà sa vàng đó, để ở nơi nào ? Áo cà-sa vàng để tại Vân Nam.  

Truyền cá thập ma, tương thố tựu thố : Nói là truyền, rốt ráo là truyền cái gì ? Thật ra thì chẳng có cái gì hết, có chăng chỉ là hình thức vậy thôi. Số là chúng sanh có chỗ chấp trước, do đó mà chấp vào sự truyền giao một thứ gì đó, bởi vậy mới là ‘tương thố tựu thố’, từ sai đến sai.  

Ương họa nhi tôn quy mao thố giác : Cũng vì lý do đó mà đời sau mới nẩy sanh sự tranh chấp y bát. Đạo vốn không tranh, vậy mà họ tranh nhau để giao họa cho con cháu về sau. Còn như chân chánh hiểu được pháp đó là nhiều hay ít vậy ? Điều này có thể ví như lông rùa và sừng thỏ. Rùa đen thì không có lông, thỏ thì không có sừng, nói trắng ra hoàn toàn không có gì cả.  

 

Bài Kệ  

Linh sơn niêm hoa truyền tâm ấn

Phá nhan vi tiếu trực thừa đương

Tổ tổ pháp đăng chiếu sa giới

Tăng tăng huệ mạng mãn đại thiên

Kim sắc đầu đà cà sa tràng

Di Lặc tôn Phật tục thánh điền

Ma-ha Ca Diếp công huân đại

Tận vị lai tế ân vô biên

Nay ta có mấy câu kệ tụng mới làm để ta giảng cho các vị nghe :

Linh sơn niêm hoa truyền tâm ấn : Câu này nói tới hội Linh Sơn khi đức Phật Thích-ca cầm một bông hoa lên truyền tâm ấn. Đây chẳng phải là một hành động tùy tiện, mà là một sự biểu hiện pháp của đức Phật, thử xem trong đại chúng có ai hiểu ý gì không ?  Lúc ấy chẳng ai hiểu được ý nghĩa vi diệu này.  

Phá nhan vi tiếu trực thừa đương : Duy có tôn giả Ca-Diếp là nở mặt mỉm cười, tỏ bày ý nguyện gánh vác việc giao phó, tức là đảm đương trách nhiệm lưu truyền dòng pháp cho đời sau. Tôn giả hiểu ngay như vậy, đó là ý nghĩa của chữ ‘trực thừa đương’. 

Tổ tổ pháp đăng chiếu sa giới : Các tổ sư truyền y bát cho nhau, lấy tâm ấn âm, đó là nghĩa lưu truyền dòng pháp hay giữ cho ngọn đèn pháp không bị tắt (pháp đăng bất diệt). Ngọn đèn tuy là nhỏ nhưng ánh sáng lại truyền xa, thế giới nào cũng tới cả, nhiều như số cát sông Hằng vậy.  

Tăng tăng huệ mạng mãn đại thiên : Huệ mạng của tăng cũng là huệ mang Phật, cũng là huệ mạng pháp. Mỗi vị tăng mang đủ huệ mạng của Phật, pháp, tăng, nên Phật pháp ở khắp mọi nơi, cùng khắp đại thiên thế giới.  

Kim sắc đầu đà cà sa tràng : Nói kim sắc đầu đà là chỉ tôn giả Ma-ha Ca-Diếp. Ngài gìn giữ tấm áo cà-sa, dựng cờ pháp, để chờ ngày giao áo đó cho đức Phật tương lai là tôn Phật Di Lặc.  

Di Lặc tôn Phật tục thánh điền : Đức Phật hạ sanh trong tương lai là Ngài Di Lặc sẽ tiếp tục công tác hành trì cùng một thứ đạo của chư Phật (chư Phật đạo đồng).

(Trong nguyên tác của Thượng Nhân thì câu kệ tụng này ghi là ‘Di Lặc tôn Phật tục thánh thiên’. Nay xin đổi chữ ‘thiên’ thành chữ ‘điền’, theo nghĩa ‘điền’ là ruộng, bởi lý do e rằng mọi người không hiểu ý nghĩa của chữ ‘thiên’ trong câu này. Đổi thành chữ ‘điền’ thì rõ nghĩa rằng Phật tương lai là đức Di Lặc sẽ tiếp tục canh tác thửa ruộng của Thánh nhân. Bình thường người ta thấy chữ ‘điền’ là ruộng thì gắn liền với đất ; còn như dùng chữ ‘thiên’để chỉ thửa ruộng dó thì ý nghĩa là cả  thiên và địa đều có Phật pháp). 

Ma-ha Ca Diếp công huân đại : Đối với Phật pháp thì công lao của tôn giả Ma-ha Ca-Diếp thật là lớn lao, không ai sánh bằng. Chính đức Phật cũng đã công khai gọi tôn giả là một đại đệ tử bậc nhất.  

Tận vị lai tế ân vô biên : Ơn đức của tôn giả thiệt là vô cùng lón lao, không thước nào đo được, cho nên chúng ta là đệ tử của Phật, là giáo đồ của Phật trong tương lai không làm sao có thể báo đáp lại cho vừa.  

Thượng nhân Tuyên Hóa giảng ngày 15 tháng 10 năm 1983

 

Chú Thích (1) : Xem ‘Cảnh Đức Truyền Đăng Lục’ quyển 1

. . . . Kinh Niết Bàn nói : Lúc ấy đức Thế Tôn sắp nhập niết-bàn, Ca-Diếp không có mặt trong hội chúng. Phật bảo các đại đệ tử : ‘Khi nào Ca-Diếp đến, dặn Ca-Diếp tuyên dương chánh pháp nhãn tạng.’ Lúc bấy giờ Ca-Diếp đương ở trong hang Tân-bát-la, núi Kỳ-xà-quật, thấy một nguồn sáng rực, tức thời vào định, dùng thiên nhãn thanh tịnh thấy đức Thế Tôn nhập niết bàn ở bên sông Hy-liên. Tôn giả bảo các đồ chúng : ‘Như Lai vào niết-bàn, mau quá vậy thay !’ Tôn giả liền đi đến nơi hai cây, khóc rất là bi thiết. Nằm trong kim quan Phật duỗi hai bàn chân ra cho thấy. Lúc ấy Ca-Diếp bảo các tỳ-kheo rằng : ‘Đức Phật đã trà-tỳ, xá-lợi kim cương chẳng phải việc của chúng ta ; việc chúng ta là kết tập pháp nhãn, không để cho nó bị tuyệt.’ Tôn giả nói bài kệ rằng :  

Đệ tử Như Lai

Chớ vội niết bàn

Người có thần thông

Phải đến kết tập.  

Như vậy tất cả những ai đã chứng thần thông đều tới thành Vương Xá, núi Kỳ-xà-quật, tụ tập trong hang Tân-bát-la.. Lúc đầu vì chưa sạch các lậu, nên A-Nan không được dự hội, nhưng sau đó thì chứng được quả A-la-hán nên mới được vào dự. Ca-Diếp bèn nói trước đại chúng : ‘Đây tỳ-kheo A-Nan, người được nghe nhiều, ghi nhớ hết, có trí huệ lớn, luôn luôn theo Như Lai, phạm hạnh thanh tịnh, Phật pháp nghe được như nước rót vào bình không rơi rớt, Phật từng khen ngợi là thông tuệ bậc nhất, nghĩ nên mời A-Nan kết tập tạng Tu-đa-la.’ Đại chúng lặng yên. Ca-Diếp nói với A-Nan : ‘Nay ông hãy tuyên pháp nhãn.’ A-nan nói xin nghe lời, quan sát lòng đại chúng rồi nói kệ như sau :   

Tỳ kheo các quyến thuộc

Vắng Phật chẳng trang nghiêm

Ví như trên không trung

Bầy sao thiếu vừng nguyệt.

Nói xong bài kệ, tôn giả làm lễ các chúng tăng rồi bước lên pháp tòa, nói : ‘Tôi nghe như vầy, có một thời đức Phật tại nơi đó, thuyết giảng kinh đó. . . .cho đến trời, người  làm lễ phụng hành.’. Tôn giả Ca-Diếp hỏi các tỳ-kheo : ‘Những điều ông A-Nan nói có đúng hay không ?’Tất cả đều đáp rằng : ‘Không sai những gì đức Thế Tôn đã dạy.’ Ca-Diếp nói với A-Nan : ‘Ta chẳng ở đây lâu, nay ta giao phó chánh pháp nhãn tạng cho ông, ông phải khéo gìn giữ. Hãy nghe ta nói bài kệ :  

Các pháp xưa nay  pháp

Không pháp không phi pháp

Tại sao trong một pháp

Có pháp, có phi pháp ?



Nhị Tổ: Tôn Giả A-Nan-Đà

Phiên âm Hán Việt:   

Tôn giả, Vương Xá thành nhân, Hộc-Phạn vương tử, Phật chi tòng đệ giả, đa văn đệ nhất. Nhất nhật vấn Ca-Diếp viết : ‘Sư huynh ! Thế Tôn truyền kim lan cà sa ngoại, biệt truyền cá thập ma ?’ Ca-Diếp triệu : ‘A-Nan !’ Tôn giả ứng nặc. Ca-Diếp viết :‘Đảo khước môn tiền sát can trước’. Hậu Ca-Diếp nãi cáo tôn giả viết : ‘Ngã kim niên bất cửu lưu, kim tương chánh pháp phó chúc ư nhữ, nhữ thiện thủ hộ.’ Hậu tôn giả chuyển phó pháp ư Thương-Na-Hòa-Tu, ư Hằng hà trung lưu nhập diệt, dũng thân hư không, hiện thập bát biến, nhập phong phấn tấn tam muội, phân thân tứ phần, nhất phụng Đao-Lợi thiên, nhất phụng Sa-Kiệt-La long cung, nhất phụng Tỳ-Xá-Ly vương, nhất phụng A-Xà-Thế vương. Các các tạo bảo tháp cung dưỡng.

 

Dịch :

                                      Tổ thứ hai: Tôn Giả A-Nan-Đà

Tôn giả, người thành Vương Xá, con ông hoàng Hộc-Phạn, tức là em con chú của đức Phật, đa văn bậc nhất.

Một hôm tôn giả hỏi Tổ Ca-Diếp :

-  Khi Thế tôn truyền lại áo cà-sa vàng cho sư huynh, có còn truyền cái gì khác nữa chăng?

Tổ Ca-Diếp bèn gọi :

-  A-Nan !

Tôn giả đáp lại :

-  Dạ!

Tổ Ca-Diếp bảo :

- Đổ cột phướn trước cổng !

Về sau Tổ Ca-Diếp bảo tôn giả :

Năm nay ta không ở lại lâu nên bây giờ ta giao phó chánh pháp cho ông, ông hãy khéo gìn giữ.

Sau này tôn giả truyền pháp cho Thương-Na-Hòa-Tu, rồi ra giữa dòng sông Hằng mà nhập niết-bàn. Thân Ngài nhảy vọt lên không trung, hiện ra mười tám cách biến hóa, rồi vào trong định ‘ phong phấn tấn’. Thân Ngài chia làm bốn phần, một phần cung dưỡng trời Đao Lợi, một phần cung dưỡng long cung Sa-Kiệt-La, một phần dành cho vua Tỳ-Xá-Ly, một phần cho vua A-Xà-Thế. Các nơi đều dựng bảo tháp để thờ Ngài.                                                                                        

 

Tán

Đa văn tổng trì

Tuệ tánh viên ngộ  

Đảo khước sát can  

Lưỡng thủ phân phó

Nan huynh nan đệ

Thị tử thị phụ  

Tuy nhiên như thử  

Hội sự hậu tố.  

 

Dịch : 

Đa văn tổng trì

Trí huệ viên ngộ

Đổ cột cờ phướn

Hai tay giao phó

Ai anh ai em? 

Cha đó con đó! 

Tuy là như vậy

Vẽ xong giấy trắng. 
 

Hoặc thuyết kệ viết :  

A-Nan đa văn vị dụng công

Ma-Đăng-Già nữ sính tà phong

Thủy tri đạo lực thiểu kiên cố

Chung bị dâm thất khốn quyết cung

Phật đảnh Lăng Nghiêm nhiếp hoàn bổn

Văn Thù Sư Lợi trì cúu ứng

Kết tập kinh tạng truyền vạn cổ

Pháp môn mệnh mạch lưu tây đông.

Tuyên Hóa Thượng Nhân tác

 

Dịch :

A-Nan đa văn chửa dụng công

Ma-Đăng-Già giở thói tà phong

Mới hay đạo lực chưa kiên cố

Xui nên bị hãm trong nhà dâm

Văn Thù Sư Lợi đi cứu ứng

Dùng chú Lăng Nghiêm giải thóat về

Kết tập kinh tạng truyền vạn cổ

Phật pháp khơi dòng khắp tây đông.  

Thượng Nhân Tuyên Hóa soạn

 

Giảng Thoại

 

Bài truyện :  

Tôn giả, Vương Xá thành nhân, Hộc-Phạn vương tử, Phật chi tòng đệ giả, đa văn đệ nhất. : Ma-ha Ca-Diếp là tổ sư đời thứ nhất, tôn giả A-Nan là tổ sư đời thứ nhì. Ngài A-Nan là dân thành Vương-Xá, con ông hoàng Hộc-Phạn, tức em con chú của đức Phật, là người đa văn bậc nhất. Tất cả những kinh điển Phật nói đều do tôn giả thuộc lòng mà đọc ra khi kết tập tại núi Kỳ-Xà Quật, trước sự ấn chứng của đại chúng. Phật nói pháp nào tôn giả cũng ghi nhớ rành mạch rõ ràng không quên, chứng tỏ trí nhớ của Ngài quả là phi thường.  

Nhất nhật vấn Ca-Diếp viết : ‘Sư huynh ! Thế Tôn truyền kim lan cà sa ngoại, biệt truyền cá thập ma ?’ : Một hôm tôn giả hỏi Ngài Đại Ca-Diếp : ‘Khi Thế Tôn truyền áo cà-sa cho sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng ?’  

Ca-Diếp triệu : ‘A-Nan !’ Tôn giả ứng nặc : Ngài Đại Ca-Diếp liền dùng phương cách gọi : ‘A-Nan !’ Tôn giả liền ứng thanh đáp lại.  

Ca-Diếp viết :‘Đảo khước môn tiền sát can trước’ : Tổ Ca-Diếp nói : ‘Xô đổ cột phướn trước cổng cho ta !’  

Hậu Ca-Diếp nãi cáo tôn giả viết : ‘Ngã kim niên bất cửu lưu, kim tương chánh pháp phó chúc ư nhữ, nhữ thiện thủ hộ.’ : Sau đó Ngài Ca-Diếp bảo tôn giả : ‘Nay ta già rồi không muốn ở đây lâu nên ta truyền thọ chánh pháp nhãn tạng cho ông, ông hãy gìn giữ cho khéo’. Chữ phó chúc có nghĩa là truyển thọ.  

Hậu tôn giả chuyển phó pháp ư Thương-Na-Hòa-Tu : Về sau tôn giả A-Nan lại giao chánh pháp nhãn tạng cho tôn giả Thương-Na-Hòa-Tu (Chú 1).  

Ư Hằng hà trung lưu nhập diệt, dũng thân hư không, hiện thập bát biến, nhập phong phấn tấn tam muội : Ngài A-Nan nhập diệt tại nơi sông Hằng, tức là Ngài viên tịch ở chỗ này. Khi nhập diệt, thân Ngài không nằm chết ở đó, mà bay vút lên không trung và biến hóa mười tám cách. Những ai đã chứng quả có thể biến hóa như vậy, hoặc giả hiện ra lửa phun trên thân, lửa phun dưới thân, hoặc giả trên phun nước, hay hiện thân lơ lửng trên không, trong tư thế nằm, có lúc thì ngồi, tóm lại thân hình biến hóa trên không trung một cách tự tại. Lúc bấy giờ, gió còn nổi lớn, trời làm sấm sét nữa, đó là do tôn giả đi vào định, loại định gọi là ‘phong phấn tấn’.  

Phân thân tứ phần, nhất phụng Đao-Lợi thiên, nhất phụng Sa-Kiệt-La long cung, nhất phụng Tỳ-Xá-Ly vương, nhất phụng A-Xà-Thế vương. Các các tạo bảo tháp cung dưỡng : Sau khi trà-tỳ, xá lợi của tôn giả chia ra làm 4 phần : một phần cung dưỡng trời Đao Lợi, một phần cung dưỡng long cung Sa-Kiệt-La, một phần chia cho vua Tỳ-Xá-Ly, một phần chia cho vua A-Xà-Thế. Các nơi nhận xá lợi đều cho xây tháp để thờ phượng.

 

Bài Tán  

Đa văn tổng trì

Tuệ tánh viên ngộ  

Đảo khước sát can  

Lưỡng thủ phân phó

Nan huynh nan đệ

Thị tử thị phụ  

Tuy nhiên như thử  

Hội sự hậu tố.  

Đa văn tổng trì, tuệ tánh viên ngộ : Đây là nói về tính cách đa văn của tôn giả. Số là kể từ lúc đức Phật bắt đầu chuyển pháp luân cho tới khi vào niết-bàn, Phật nói ra câu nào tôn giả cũng ghi nhớ hết và có như vậy trong kỳ kết tập, các kinh điển mới được gom lại do công của tôn giả cùng với sự góp sức của các vị đại A-La-Hán. Tôn giả là người đa văn, cường ký, tức có ý nói tôn giả đã từng xem nhiều sách, đọc nhiều, lại có trí nhớ bền lâu. Tổng trì có nghĩa là thâu tóm hết mọi pháp và giữ hết các ý nghĩa của chúng không bỏ sót. Đây là đặc tính của định tổng trì, khiến cho trí huệ dược tròn đầy, chứng tỏ tôn giả đã ngộ đạo.  

Đảo khước sát can, lưỡng thủ phân phó : Tổ Ca-Diếp bảo tôn giả xô đổ cột phướn trước cổng, sau đó đưa y bát cho tôn giả.  

Nan huynh nan đệ, thị tử thị phụ : Anh em bạn đạo như hai vị kể trên thật khó kiếm ra và cũng khó mà biết được vị nào đáng là cha, còn vị nào là con !  

Tuy nhiên như thử, hội sự hậu tố : Tuy nói là như vậy, kỳ thực chẳng có gì, hết thảy mọi pháp đều là không. Câu ‘hội sự hậu tốcó nghĩa là vẽ xong một bức họa trên giấy rồi mầu giấy hoàn trở lại trắng bạch, chẳng thấy vết tích gì. Trong các vị có ai học được lối vẽ đó chăng ? Quét sạch mọi pháp, ly hết mọi tướng, chẳng còn gì hết !  

 

Bài kệ :

A-Nan đa văn vị dụng công

Ma-Đăng-Già nữ sính tà phong

Thủy tri đạo lực thiểu kiên cố

Chung bị dâm thất khốn quyết cung

Phật đảnh Lăng Nghiêm nhiếp hoàn bổn

Văn Thù Sư Lợi trì cúu ứng

Kết tập kinh tạng truyền vạn cổ

Pháp môn mệnh mạch lưu tây đông.

A-Nan đa văn vị dụng công : Câu này nói tôn giả A-Nan học nhiều, trí nhớ tốt, nên được gọi là đa văn bậc nhất, nhưng vì tôn giả không dụng công tu hành khiến cho sự hiểu biết chỉ là một lọai ‘thiền cửa miệng’, không phảỉ là sự chứng đắc.  

Ma-Đăng-Già nữ sính tà phong : Bởi thiếu sự dụng công nên tôn giả gặp nạn Ma-Đăng-Già, một cô gái ngọai đạo phái ‘Hoàng phát’. Cô này nhờ mẹ niệm một câu tà chú, bắt được tôn giả, rồi làm cho tôn giả bị mê hoặc.  

Thủy tri đạo lực thiểu kiên cố : Lúc bấy giờ tôn giả mới hay rằng mình thiếu sự dụng công nên đạo lực không đủ kiên cố để chống lại.  

Chung bị dâm thất khốn quyết cung : Vì thiếu đạo lực nên đã bị mê hoặc và khốn đốn vì câu chú Tiên Phạm Thiên của ngoại đạo.  

Phật đảnh Lăng Nghiêm nhiếp hoàn bổn : May sao khi ấy đức Phật biết được, cho nên :

‘Đỉnh phóng hào quang, đủ trăm thứ báu, trong hào quang có hoa sen ngàn cánh, có hóa thân Phật, ngồi thế kiết già, đọc bài thần chú. . .’

Đức Phật nói thần chú Thủ Lăng Nghiêm để giải thóat tôn giả mang về nơi Phật. Lúc đó vị nào là người đi cứu tôn giả A- Nan ?  

Văn Thù Sư Lợi trì cứu ứng : Bồ tát Văn Thù Sư Lợi dùng thần chú này đi cứu tôn giả.  

Kết tập kinh tạng truyền vạn cổ : Bởi có cứu được tôn giả nên đến hồi kết tập, pháp bảo của Phật mới được gom hết lại. Phật nói ra bất luận trong thời gian nào Ngài A-Nan cũng tụng ra được. Có như vậy từng bộ kinh điển mói được truyền lại đến ngày nay và mãi mãi không bi dứt đọan.  

Pháp môn mệnh mạch lưu tây đông : Giòng Phật pháp truyền qua Trung quốc, rồi truyền khắp phương tây, phương đông, Xem như vậy thì công lao của tổ A-Nan thật là vĩ đại, chúng ta phải ghi nhớ điều đó !

 

                                                   Thượng nhân Tuyên Hóa giảng ngày mồng 1 tháng 11 năm 1983

 

Ghi chú 1: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 1 ghi như sau :

. . . Tôn giả A-Nan lại nghĩ rằng : ‘Nếu ta tới riêng một nước nào để vào niết-bàn, ắt sẽ có chuyện tranh giành giữa các nước với nhau ; vậy ta phải hóa độ tất cả một cách bình đẳng.’ Tổ bèn đi ra giữa dòng sông Hằng để viên tịch. Lúc ấy sông núi đất đai nổi lên chấn động sáu cách. Năm trăm tiên nhân trên núi Tuyết trông thấy điềm lành này liền bay thẳng tới, đảnh lễ dưới chân tôn giả, quỳ xuống bạch rằng :’Chúng con phải chứng pháp Phật tại nơi trưởng lão, nguyện trưởng lão từ bi độ thoát cho chúng con.’ Ngài A-Nan lặng lẽ ưng thuận, hóa phép biến sông Hằng thành đất vàng rồi nói các pháp lớn cho các tiên nghe.

Tôn giả lại nghĩ : ‘Các đệ tử đã được độ nên tới đây tập họp,’ Trong chốc lát năm trăm vị la-hán ở trên không trung bay xuống để cho các vị tiên xuất gia thọ giới. Trong số tiên nhân có hai vị la-hán, một là Thương Na Hòa Tu, còn vị thứ hai là Mạt Điền Để Ca. Tôn giả biết đây là pháp khí, bèn nói Thương Na Hòa Tu rằng : ‘Lúc xưa Thế Tôn giao phó chánh pháp nhãn tạng cho Ngài Đại Ca-Diếp, khi Tổ Ca-Diếp vào định thì giao phó cho ta. Nay ta sắp vào niết bàn, nên lại giao phó cho ngươi, ngươi thọ giáo nơi ta, hãy nghe bài kệ này :  

Bổn lai phó hữu pháp

Phó liễu ngôn vô pháp

Các các tu tự ngộ

Ngộ liễu vô vô pháp. 

Dịch :

Xưa nay truyền có pháp

Truyền rồi nói không pháp

Mỗi người cần tự ngộ

Ngộ rồi không không pháp




Tổ thứ tư Tôn Giả Ưu-Bà-Cúc-Đa  

Phiên âm Hán Việt: 

Tôn giả Sất Lợi quốc nhân dã, tính Thủ Đà. Niên thập thất, đầu Tam Tổ xuất gia. Tổ vấn : ‘Nhữ niên kỷ hà ?’ Đáp viết : ‘Thập thất.’ Tổ viết : ‘Nhữ thân thập thất da ? Tính thập thất da ?’ Đáp viết : ‘Sư phát dĩ bạch, vị phát bạch da ? Tâm bạch da ?’ Tổ viết : ‘Ngã phát bạch, phi tâm bạch dã.’ Đáp viết : ‘Ngã thân thập thất, phi tính thập thất dã.’ Tổ tri thị pháp khí, tọai vị lạc phát thọ cụ. Cáo chi viết : ‘Tích Như Lai dĩ vô thượng pháp nhãn phó chúc Ca Diếp, triển chuyển tương thọ, nhi chí ư ngã. Ngã kim phó nhữ, vật linh đọan tuyệt.’ Tôn giả đắc pháp dĩ, tùy phương hành hóa, ma cung chấn động, ba tuần sầu bố, hậu đắc Đề Đa Ca dĩ, tọai dũng thân phi không, trình thập bát biến, phục tọa, già phu nhi thệ.

Dịch :                 

Tổ thứ tư Tôn Giả Ưu-Bà-Cúc-Đa  

Tôn giả là người nước Sất Lợi, dòng Thủ Đà la. Năm 17 tuổi, Ngài xin Tổ thứ ba  xuất gia.

Tổ hỏi :

Ngươi được bao nhiêu tuổi?

 Thưa rằng :

- Con được 17 tuổi.

Tổ nói :

- Thân ngươi 17 tuổi hay tánh ngươi 17 tuổi ?

Ngài hỏi lại :

- Đầu thầy đã bạc, vậy là tóc thầy bạc hay tâm thầy bạc.

Tổ bảo :

- Tóc của ta bạc, chẳng phải tâm của ta bạc.

Ngài trả lời:

- Thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi.

Tổ biết đây là pháp khí bèn nhận cho xuất gia, cắt tóc và thọ giới cụ túc.

Tổ bảo :

- Xưa đức Như Lai giao pháp nhãn vô thượng cho tôn giả Ca Diếp, từ đó pháp nhãn lần hồi truyền lại cho đến ta, nay ta giao phó cho ngươi chánh pháp này, ngươi chớ để đọan dứt.

Tôn giả được pháp rồi tùy duyên đi các nơi cảm hóa chúng sanh, khiến cho cung ma chấn động, vua ma ba-tuần rất là lo sợ. Sau khi kiếm được ngườI tiếp nối là Đề Đà Ca, Ngài bay lên hư không, hóa 18 phép biến, rồi ngồi xuống theo thế kiết già mà đi.

 

Tán :  

Thân tánh thập thất

Hữu hà giao thiệp

Hàng phục ba tuần

Toàn bằng cừ lực

Chấn động ma cung

Liễu vô luân thất

Nguy nguy đường đường

Quang thư hóa nhật.

 

身性十七

 

有何交涉

 

降伏波旬

 

全憑渠力


震動魔宮

 

了無倫匹

 

巍巍堂堂

 

光舒化日

Dịch :  

Thân tánh mười bảy

Có gì quan hệ ?

Hàng phục vua ma

Tòan nhờ đạo lực

Rung động cung ma

Chẳng ai so bằng

Lỗi lạc đường hòang

Sáng như mặt nhật

 

Hoặc thuyết kệ viết :  

Ấu thời xuất gia ngộ tổ truyền

Đẩu tẩu tinh thần vong thụy miên

Thân tính thập thất đa ngôn thuyết

Phát tâm bạch da nãi hí đàm

Cơ giáo tương khấu khế chân lý

Sư tư đạo hợp diễn diệu huyền

Pháp bổn lưu biến tam thiên giới

Thập phương phổ hóa tục tuyệt thuyên.

 

幼時出家遇祖傳

抖擻精神忘睡眠

身性十七多言說

髮心白耶乃戲談

機教相扣契真理

師資道合演妙玄

法本流遍三千界

十方普化續絕詮

◎宣公上人作

 

Dịch :

Tuổi trẻ xuất gia gặp Tổ truyền

Đầu đà tu khổ ngủ thường quên

 

 

Giảng Thoại

Bài Truyện

 

Tôn giả Sất Lợi quốc nhân dã, tính Thủ Đà : Kể từ đức Phật Thích Ca, tôn giả Ưu Bà Cúc Đa là vị Tổ sư đời thứ tư. Ngài là người nước Sất Lợi, xứ Ấn Độ, thuộc dòng Thủ Đà La.  

Niên thập thất, đầu Tam Tổ xuất gia : Năm 17 tuổi, tôn giả  xuất gia với Tổ Thương Na Hòa Tu.  

Tổ vấn : ‘Nhữ niên kỷ hà ?’: Tổ hỏi tôn giả được bao nhiêu tuổi.  

Đáp viết : ‘Thập thất.’ : Tôn giả thưa : 17 tuổi.  

Tổ viết : ‘Nhữ thân thập thất da ? Tính thập thất da ?’: Tổ lại hỏi :

- Thân ngươi 17 tuổi hay tánh ngươi 17 tuổi ?  

Đáp viết : ‘Sư phát dĩ bạch, vị phát bạch da ? Tâm bạch da ?’: Tôn giả đáp lại rằng : ‘Đầu Thầy tóc bạc, vậy là tóc của Thầy bạc hay tâm Thầy bạc ?’Tôn giả không trả lời thẳng vào câu hỏi của Tổ, mà vặn hỏi lại Tổ bằng câu hỏi trên.  

Tổ viết : ‘Ngã phát bạch, phi tâm bạch dã.’ : Tổ nói : ‘Đó là tóc ta bạc, chẳng phải tâm của ta bạc đâu !’  

Đáp viết : ‘Ngã thân thập thất, phi tính thập thất dã.’ : Tôn giả mới trả lời rằng : ‘Thân của con là 17 tuổi, nhưng tánh của con chẳng phải là 17.’  

Tổ tri thị pháp khí, toại vị lạc phát thọ cụ : Tổ biết người này cũng có trí huệ, chẳng phải là hạng tầm thường, bèn chấp thuận cho cắt tóc và cho thọ giới cụ túc.  

Cáo chi viết : ‘Tích Như Lai dĩ vô thượng pháp nhãn phó chúc Ca Diếp, triển chuyển tương thọ, nhi chí ư ngã. Ngã kim phó nhữ, vật linh đọan tuyệt.’ : Tổ nói : ‘Lúc xưa, đức Thích-Ca Mâu Ni giao phó pháp nhãn vô thượng cho tôn giả Ma-ha Ca-Diếp, rồi từ đó qua mấy đời, pháp nhãn được truyền đến ta, nay ta trao lại cho ngươi (chú 1), để ngươi gìn giữ và truyền lại cho các đời sau, chớ để đọan dứt.  

Tôn giả đắc pháp dĩ, tùy phương hành hóa : Sau khi được pháp, tôn giả đi  giáo hóa các nơi, độ được rất nhiều chúng sanh (chú 2), khiến cho Ma vương sợ hãi vô cùng. Ma cung chấn động : Quả là như vậy, bình thường khi có người tu đạo chân chánh xuất hiện, loài ma cảm thấy bất an. Tại sao vậy ? Đây là vấn đề uy thế trong tương quan lực lượng giữa tà và chánh. Nếu lực lượng của phe ma lớn mạnh thì uy thế Phật giáo sẽ yếu đi và ngược lại, cho nên thiện nhân mà đông thì sẽ ít thấy người xấu. Tại Thánh Thành Vạn Phật này, chúng ta dều tu học chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng tự tư, chẳng tự lợi, chẳng dối trá, nên thiện nhân thì đông, khung cảnh khác hẳn với bên ngoài và ai đã từng đến đây đều thấy như vậy.

Ba tuần sầu bố : Vua loài ma là Ba Tuần rất hãi hùng coi chuyện đó như là một việc động trời, cố tìm đủ mọi cách, vận dụng đủ thứ ma lực để phá chánh pháp. Chẳng dè, tôn giả Ưu Bà Cúc Đa, vốn là người chân tu, công phu thiền định đầy đủ, nên Ma vương đã bị hàng phục rồi sau đó quy y tam bảo. (chú 3)  

Hậu đắc Đề Đa Ca dĩ, toại dũng thân phi không, trình thập bát biến, phục tọa già phu nhi thệ : Về sau, khi gặp tôn giả Đề Đà Ca, truyền pháp lại cho vị này rồi, Tổ Ưu Bà Cúc Đa mới bay mình lên không trung, diễn ra 18 phép biến hóa – nằm, ngồi, đứng, trên phun nước, dưới phun lửa, trên phun lửa, dưới phun nước v.v. Kế đó, Tổ bay xuống, ngồi theo thế kiết già mà viên tịch.

 

Bài Tán

Thân tánh thập thất

Hữu hà giao thiệp

Hàng phục ba tuần

Toàn bằng cừ lực

Chấn động ma cung

Liễu vô luân thất

Nguy nguy đường đường

Quang thư hóa nhật.

                     Thân tánh thập thất, hữu hà giao thiệp?: Thân mười bảy hay tánh mười bảy, có gì là quan hệ ? Bỗng dưng chẳng có chuyện gì, nay lại bày đặt ra chuyện nọ chuyện kia ; chẳng có gì để nói mà cứ kiếm chuyện ra để nói ! Đã hỏi tuổi là 17, lại còn hỏi thân lên 17 hay tánh 17 ? Phải chăng hỏi như vậy là thừa! Đúng như câu nói ‘phàm có lời nói, đều chẳng có thực nghĩa.’  

Hàng phục ba tuần, toàn bằng cừ lực : Nhờ vào đạo lực cao siêu của tôn giả mà vua lòai ma bị khuất phục. Điều đó chứng tỏ tôn giả là bậc chân tu, dụng công đắc lực nên bọn ma mới kinh hãi như vậy.  

                     Chấn động ma cung, liễu vô luân sất : Tôn giả làm cho cung ma rung động, oai lực đó không ai sánh bằng.  

                     Nguy nguy đường đường, quang thư hóa nhật : Nguy nguy có nghĩa là to lớn, đường đường là quang minh lỗi lạc, đường đường chính chính, không có chút gì là vị kỷ, tự tư, tự lợi, chẳng tham, chẳng tranh, chẳng mong cầu, không gian dối. Các vị nghĩ coi ! Có được đầy đủ tác phong như vậy thì có ai sánh bằng được chăng ? Hào quang từ tôn giả phóng ra chẳng khác gì với ánh sáng của vầng thái dương vậy !  

 

                  BBài Kệ  

Ấu thời xuất gia ngộ tổ truyền

Đẩu tẩu tinh thần vong thụy miên

Thân tính thập thất đa ngôn thuyết

Phát tâm bạch da nãi hí đàm

Cơ giáo tương khấu khế chân lý

Sư tư đạo hợp diễn diệu huyền

Pháp bổn lưu biến tam thiên giới

Thập phương phổ hóa tục tuyệt thuyên.

Ấu thời xuất gia ngộ tổ truyền : Câu này nói Tổ xuất gia năm 17 tuổi, khi hãy còn non nớt và được Tổ thứ ba là Thương Na Hòa Tu truyền pháp.  

Đẩu tẩu tinh thần vong thụy miên : Duyên lành khiến cho tôn giả gặp được Tổ thứ ba chính là một điều may mắn hiếm có, do đó tôn giả lập chí tu hạnh đầu đà. Tinh thần đẩu tẩu có nghĩa là hạnh đầu đà ; đẩu tẩu có khi còn được dịch âm là đầu đà. ‘Vong thụy miên’ là quên ngủ, bởi tu khổ hạnh nên tôn giả dụng công rất tinh tấn, quên luôn cả ngủ.  

Thân tính thập thất đa ngôn thuyết : Được 17 tuổi, đó là thân 17 hay tánh 17 ? Lại còn hỏi thêm như vậy nữa ư ? Quả là đa ngôn ! Vị Tổ này thiệt là . . .! Nếu như tôi bị người ta hỏi như vậy, tôi sẽ cho người hỏi một cái bạt tai đó ! Một câu hỏi dư thừa ! Chúng ta thấy cậu bé rất thông minh, cậu chẳng đáp lại câu hỏi đó, coi như mình không nghe thấy, còn lên tiếng hỏi vặn lại Tổ nữa :  

Phát tâm bạch da nãi hí ngôn : Hỏi rằng : ‘Tóc trên đầu sư phụ đã bạc, vậy là tóc sư phụ bạc hay tâm của sư phụ bạc ?’ Quý‎‎ vị thấy chưa ? Cậu bé đúng là có đầu óc khôi hài, láu cá. Câu hỏi vặn lại chính là một ngôn - lời nói đùa. Vậy đây là chuyện rỡn hay sao ? Ai chẳng biết đầu bạc là do tóc bạc chớ đâu phải tâm bạc ! Còn phải hỏi thêm làm chi nữa ? Sự thực chuyện đối đáp này chẳng phải là một cuộc đùa rỡn, giữa con nít với nhau mà chính là một màn đấu về ‘cơ phong’, anh đánh ra một đòn thì bên kia đánh trả lại một đòn, anh đấm ra một quyền thì bên kia trả lại bằng một cái đá. Như vậy đó ! Một trò chơi ăn miếng trả miếng. Giả tỷ tôi hỏi anh một điều gì đó anh cũng đáp lại theo kiểu cách như vậy !  

Cơ giáo tương khấu khế chân lý : ‘Cơ giáo tương khấu’ là nghĩa gì ? Đây là vấn đề đối cơ thuyết pháp, nói pháp theo căn cơ, sao cho căn cơ và giáo pháp ăn khớp với nhau. Tuy các câu đối đáp có tính cách đùa rỡn, nhưng bề trong hai bên đã có dịp quan sát lẫn nhau, bên này biểu diễn Thái cực quyền như thế nào, bên kia múa võ Thiếu Lâm ra sao ? Và từ đó mà biết được pháp khí. ‘ Khế chân lý’ nghĩa là hợp vói lẽ thật. Bề ngoài có vẻ như hai người nói rỡn chơi mà kỳ thật nó chứa đựng một ý nghĩa tuyệt vời vì đó là lúc. . .   

Sư tư đạo hợp diễn diệu huyền : ‘Sư tư’ là thầy trò ; ‘đạo hợp’ là hợp ýđạo. ‘Diễn diệu huyền’, bởi vì từ đó mà diễn thành một màn truyền pháp, một loại pháp huyền diệu, tức pháp môn truyền tâm ấn Phật.  

Pháp bổn lưu biến tam thiên giới : ‘Pháp bổn’ là gốc của pháp. Đạo pháp phổ biến khắp cả đại thế giới ba ngàn không chỗ nào là tách khỏi gốc pháp đó.  

Thập phương phổ hóa tục tuyệt thuyên : Pháp đó cũng làm cho nối tiếp giòng đạo pháp gần như bị tuyệt.  

Thượng nhân Tuyên Hóa giảng ngày mồng 5 tháng 11 năm 1983

 

Ghi Chú :

(1) Về bài kệ của Tổ thứ 3 đọc khi truyền pháp cho Tổ thứ 4, xin xem Cảnh Đức Truyền Đăng LụcChỉ Nguyệt Lục :  

Phi pháp diệc phi tâm

Vô tâm diệc vô pháp

Thuyết thị tâm pháp thời

Thị pháp phi tâm pháp

 

Dịch :

Chẳng pháp cũng chẳng tâm

Không tâm cũng không pháp

Khi nói tâm pháp ấy

Là pháp chẳng tâm pháp

 

(2) Sách Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện ghi rằng :

Tôn giả Ưu Bà Cúc Đa. . . . cứ như vầy hóa độ vô lượng chúng sanh, ai nấy đều chứng được quả a-la-hán. Hễ có người chứng quả thì tôn giả lại ghi vào một cái thẻ tre, dài chừng 4 tấc, để trong thất đá. Ngôi thất này cao tới 6 trượng, chiều dài và chiều rộng cũng ngang như vậy và lâu dần thẻ tre kín cả ngôi thất. Tiếng tăm của tôn giả vang khắp mọi nơi và người đời tôn xưng tôn giả là ‘Vô Tướng Hảo Phật’.  

(3) Cảnh Đức Truyền Đăng Lục chép như sau :

Tôn giả xuất gia năm 17 tuổi, đến năm 20 tuổi thì chứng đạo rồi đi các nơi cảm hóa, tới nước Ma-Đột-La hóa độ rất nhiều chúng sanh. Uy danh đó làm rung động cung ma khiến cho vua ma ba tuần rất là sợ hãi. Vua ma dùng đủ mọi cách để phá họai Phật pháp. Tôn giả vào định quán sát các nguyên do thì nhân cơ hội đó, vua ma đem vòng chuỗi anh lạc khoác vào cổ của tôn giả. Xuất định, tôn giả dùng thần thông biến các thây chết của người, chó và rắn kết lại thành một vòng hoa rồi nói ngọt ngào với vua ma rằng :

-          Ngươi đã tặng ta vòng anh lạc, rất quí, nay đáp lại, ta biếu ngươi vòng hoa này.

 Ma ba tuần mừng lắm, đưa cổ nhận vòng hoa và tức thời, vòng hoa biến trở lại thành những thây chết thối tha. Ba tuần rất lấy làm ghê tởm, buồn bực, nhưng dùng hết thần lực của mình rồi mà vẫn không sao cởi ra được. Vua ma bay lên các cung trời cõi Dục cầu cứu với các vua trời, lại xin Phạm vương cứu giúp, nhưng các nơi này đều trả lời rằng :

-          Đây là pháp do đệ tử của Phật biến hóa ra, chúng ta còn là phàm lậu, làm sao giải trừ được ?

 Vua ma hỏi :

    -    Vậy làm sao đây ?

Vua Phạm đáp :

    -     Ngươi xin quy phục tôn giả thì sẽ gỡ ra được.

 Và nói kệ như sau :  

Nhược nhân địa đảo

Hoàn nhân địa khởi

Ly địa cầu khởi

Chung vô kỳ lý.

Dịch :

Nếu nhân đất ngã

Phải nhờ đất dậy

Lìa đất muốn dậy

Trọn không l‎‎ý này.

Vua ma nghe lời chỉ dạy, rời khỏi cung trời, cúi lạy tôn giả tỏ lòng sám hối, trông rất thương tâm. Tôn giả hỏi :

 -  Từ nay trở đi, ngươi còn có lòng phá họai chánh pháp nữa chăng ?

 Ba tuần đáp :

 -  Con xin thề quy y Phật pháp, vĩnh viễn không làm điều xấu.

 Tôn giả dạy rằng :

 -  Nếu vậy, ngươi hãy tự nói lên rằng ngươi đã quy y tam bảo !

Vua ma chắp tay, xướng ba lần quy y tam bảo thì vòng hoa tức khắc biến mất. Vua ma vui mừng nhảy nhót, lễ tạ tôn giả, đồng thời nói bài kệ sau :  

Khể thủ tam muội tôn

Thập phương thánh đệ tử

Ngã kim nguyện hồi hướng

Vật linh hữu liệt nhược.

Dịch :

Cúi lạy chánh định tột

Đệ tử Thánh mười phương

Nay con xin hồi hướng

Chớ còn tánh yếu hèn.



Tổ thứ năm: TÔN GIẢ ĐỀ-ĐA-CA

 

 

Tôn giả Đề-đa-ca người nước Ma-già-đà. Lúc sắp sinh Tôn giả, cha Ngài mộng thấy mặt trời vàng rực chiếu khắp nơi. Lớn lên, Tôn giả gặp Tổ thứ tư (Ưu-ba-cúc-đa), liền xin xuất gia. Tổ hỏi:

          - Thân ông xuất gia hay tâm xuất gia?

Tôn giả thưa:

- Dạ! Con cầu xuất gia không phải vì thân tâm.

- Không vì thân tâm, vậy ai xuất gia?

- Phàm người xuất gia đâu có cái ngã của mình nên tâm không sinh diệt, tâm không sinh diệt thì đúng là thường đạo, chư Phật cũng thế, tâm không hình tướng, thể của nó cũng vậy.

Tổ bảo:

- Lúc ông đại ngộ tâm tự linh thông.

Tổ liền cho Tôn giả xuất gia, thọ giới cụ túc và giao phó đại pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến Trung Ấn và truyền pháp cho Di-già-ca. Sau đó, Tôn giả phóng mình lên hư không, hiện mười tám thần biến, rồi dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân.                               

Bài tán:

Tâm không sanh diệt

Muốn giấu càng tỏ

Đạo pháp phi thường

Thịt bất khoét ương

Trong mộng nói mộng

Nét xấu phô trương

Hỏa quang tam-muội

Trên tuyết thêm sương

心非生滅 

欲隱彌彰 

法非常道 

好肉剜瘡

夢中說夢 

家醜外揚 

火光三昧 

雪上加霜

 

  Kệ rằng:     

Mộng mặt trời vàng Tổ giáng thần

Linh căn bất muội quyết ly trần 

Xuất gia vô ngã lìa sanh diệt 

Nguyện ước đời tu dứt khổ nhân

Kết thân cùng Phật đồng như Thánh

Cùng Thầy hộ giáo chính pháp hưng

Hoả quang tam-muội thiêu thân huyễn

            Chấn động cung ma khiếp quỷ thần

                                               (Tuyên Công Thượng Nhân)

父夢金日祖降生 

不迷本性覓離塵

無我出家非異滅 

有願脫俗斷苦因

與佛為鄰思齊聖 

同師護教正法興

火光三昧焚幻體 

魔宮震動鬼神驚

                

     Lại có thơ rằng:

Phiền não thế tục tam giới gia

Mộng huyễn bóng nước và không hoa

Thân tâm giải thoát lìa phân biệt

Dài, ngắn, tròn đầy không khác xa

Gánh vác đại nghiệp, ngời Phật Tổ

Tổ ấn cao huyền chiếu muôn nhà

Lâm chung thị hiện lửa tam-muội

Thần thông tự tại không gì qua.

                                                  (Tuyên Công Thượng Nhân)

世俗煩惱三界家 

夢幻泡影與空花
身心解脫離分別 

長短圓融泯剎那
荷擔如來傳大業 

高懸祖印照昏麻
臨行示現火光定 

自在神通妙無涯

 

Giảng:

Tôn giả người nước Ma-già-đà. Lúc sinh Ngài, cha Ngài mộng thấy mặt trời vàng rực chiếu khắp nơi: Tổ thứ năm là tôn giả Đề-đa-ca, người nước Ma-già-đà. Lúc Ngài sắp chào đời, cha Ngài mộng thấy mặt trời vàng rực chiếu khắp nơi. (Chú 1)

Lớn lên, Tôn giả gặp Tổ thứ tư, liền xin xuất gia: Khi trưởng thành, Ngài gặp Tổ thứ tư- tôn giả Ưu-ba-cúc-đa liền xin Tổ thứ tư xuất gia.

Tổ hỏi:  Thân ông xuất gia hay tâm xuất gia ? Tổ thứ tư hỏi Ngài: “Ông muốn thân xuất gia hay là tâm xuất gia?

Tôn giả thưa: Con cầu xuất gia không phải vì thân tâm: Ngài đáp: “Thưa Ngài! Con xin xuất gia, không phải là thân xuất gia, không phải là tâm xuất gia và cũng không phải là thân tâm xuất gia”.

Tổ hỏi:  Không vì thân tâm vậy ai xuất gia?  Tổ thứ tư hỏi: “Ông không phải vì thân tâm xuất gia, không phải vì thân xuất gia, hay tâm xuất gia, vậy rốt cuộc ai xuất gia?”

Tôn giả đáp: Ngài đáp: “Phàm xuất gia: Thế nào gọi là xuất gia? Xuất gia có: xuất phiền não gia, xuất hồng trần gia, xuất sinh tử gia, xuất lao ngục gia, xuất tam giới gia. Người xuất gia, không có cái ngã của mình: Không có ngã, cũng không có một cái gì sở hữu của ngã; nếu không có ngã làm sao có thân và tâm? Tâm không sinh diệt: Chính ở trong tâm cũng không sinh không diệt. Tâm không sinh diệt, đúng là thường đạo: Tâm này không sinh cũng không diệt, đây chính là lí chân thường, một chân lí thường nhiên không thay đổi. Chư Phật cũng thế: Chư Phật cũng vậy, cũng là tâm không sinh, không diệt. Tâm không hình tướng: Tâm này không có hình tướng, cũng không phải màu xanh, vàng, đỏ, trắng hay đen, cũng không phải là dài, ngắn, vuông, tròn. Thể của nó cũng vậy: Thể tính của tâm cũng vậy, cũng không có hình tướng”.

Tổ bảo: Lúc ông đại ngộ tâm tự linh thông: Tổ thứ tư nói: “Sau này ông đại ngộ sẽ hiểu được; lúc khai ngộ thì tâm rất sáng, tự nhiên ông sẽ thông suốt!”

Tổ liền cho Tôn giả xuất gia, thọ giới cụ túc và giao phó đại pháp: Tổ thứ tư liền cho Ngài xuống tóc xuất gia và thụ giới cụ túc. Về sau, Tổ truyền Đại pháp chính pháp nhãn tạng niết-bàn diệu tâm cho Ngài. (chú 2)

Sau khi đắc pháp, Tôn giải du hóa đến Trung Ấn và truyền pháp cho Di-già-ca: Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến vùng Trung Ấn Độ và truyền pháp cho Tổ thứ sáu - Di-già-ca.

Tôn giả phóng mình lên hư không, hiện mười tám thần biến, rồi dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân: Từ đất Ngài phóng mình lên hư không, hiện mười tám thứ thần biến. Mười tám thần biến: trên thân ra lửa, dưới thân ra nước, dưới thân ra lửa, trên thân ra nước, ở giữa hư không đứng, ngồi, nằm; lại hiện nhiều cảnh giới không thể nghĩ bàn, rồi nhập định hỏa quang, dùng lửa tam-muội thiêu thân mình.

 

Bài tán:  

Tâm không sanh diệt, muốn giấu càng tỏ: Tâm không sinh không diệt, nếu quý vị muốn che dấu thì nó càng hiện rõ. Ẩn “” là che dấu cái gì đó; di chương “彌彰” là càng lộ rõ ra ngoài.

Pháp phi thường đạo, thịt bất khoét ương: Pháp này không có thường đạo nhất định. “Hảo nhục oan sang” “好肉剜瘡”, là ý nói ngay trên da thịt lành lặn mà lại tạo ra vết thương là điều không nên, bởi tự tính của chúng ta và Đức Phật là như nhau. Nếu miễn cưỡng tạo tác thì có khác gì trên da thịt lành lặn lại khoét thành vết thương.

Trong mộng nói mộng, nết xấu phô trương: Chúng ta ở trong mộng lại nói mộng, giống như đem chuyện xấu trong nhà nói với người ngoài. Gia xú “家醜” là nói chúng ta đều ở trong mộng mà lại nói mộng. Ở đây tất cả đều là hoa trong kính, trăng trong nước, không có gì chân thật. Những điều chúng ta nói ra đều không phù hợp với pháp.

Hỏa quang tam-muội, trên tuyết thêm sương: Nhập định hỏa quang này, giống như trên tuyết lại thêm sương.

 

Kệ rằng:

Mộng mặt trời vàng Tổ giáng thần: Vào ngày Tổ ra đời, khi mà vị thân sinh nằmmộng thấy mặt trời màu vàng là lúc Ngài giáng thần. Ở đây, nói chung cũng theo bát quái. Bát quái của Trung Quốc, hơn một nữa do từ Ấn Độ truyền sang, người Ấn Độ phần đông cũng theo bát quái. Nằm mộng chính là nói về chỗ xuất xứ. Vì vậy, cha Ngài nói đêm qua mộng thấy mặt trời màu vàng, sau đó thì vị Tổ này ra đời.

Linh căn bất muội, quyết ly trần: Bản tính ngài không mê muội, nên tìm cách muốn xa lìa cõi hồng trần này. 

Xuất gia vô ngã lìa sanh diệt: Xuất gia chính là vô ngã. Vô ngã là gì? Chính là nói người xuất gia không có tâm tham danh, lợi, tài, sắc. Tài, sắc, danh, thực, thùy này rõ ràng đều không có phần của ngã! Phi dị diệt “非異滅” xuất gia là phải học pháp môn bất sinh bất diệt này, “biết bản tâm mình, thấy bản tính mình” để xa lìa pháp sinh diệt.  

Nguyện ước đời tu dứt khổ nhân: Xa xưa Ngài đã phát nguyện, muốn đồng chơn[1] xuất gia nhập đạo, đoạn trừ hết nhân khổ.

Kết thân cùng Phật đồng như Thánh: Ngài tu hành, tu hành là được gần gũi Đức Phật. Tư tề thánh “思齊聖” là Ngài muốn đồng thể với chư Phật, giống như chư Phật. Thánh cũng chính là  chư Phật.

Cùng thầy hộ giáo chính pháp hưng: Ngài như sư phụ Ngài-chính là Tổ thứ tư hộ trì Phật giáo, hoằng dương chính pháp, làm chính pháp nhãn tạng niết-bàn diệu tâm không đoạn diệt.

Hỏa quang tam-muội thiêu thân huyễn: Đến lúc thị tịch, Ngài nhập tam-muội Hỏa quang, dùng lửa ấy thiêu thân giả tạm này. Thân huyễn chính là thân tứ đại giả hợp huyễn hóa.

Chấn động cung ma khiếp quỷ thần: Lúc ấy, các cung ma của thiên ma ngoại đạo đều chấn động, quỉ thần đều kinh sợ. Vì chúng biết lúc này trong thế giới có thánh nhân chứng quả, cho nên khiếp sợ.

 

Lại có Kệ rằng:

Phiền não thế tục tam giới gia: Xuất gia chính là ra khỏi ba nhà: nhà thế tục, nhà phiền não, nhà tam giới. Tam giới: là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.

Mộng huyễn bóng nước và không hoa: Con người chúng ta giống như mộng huyễn, bọt nước và hoa đốm giữa hư không.

Thân tâm giải thoát lìa phân biệt: Nếu thân tâm quý vị đều đạt đến giải thoát thì không còn sự phân biệt.

Dài, ngắn, tròn đầy không khác xa: Thế là trong khoảng sát-na cũng không có, cũng không có thời gian dài, cũng không có thời gian ngắn.  

Gánh vác đại nghiệp ngời Phật Tổ: Ngũ Tổ gánh vác chính pháp của Như Lai và truyền thừa gia nghiệp vĩ đại này.

Tổ ấn cao huyền chiếu mọi nhà: Tâm ấn cao huyền này là của những Tổ sư trước. Chiếu hôn ma “照昏麻” là chiếu soi những chúng sinh mê muội say sưa mất lí trí.

Lâm chung thị hiện lửa tam-muội: Lúc lâm chung, Ngài thị hiện tam-muội Hỏa quang.

Thần thông tự tại không gì qua: Tự tại và thần thông thâm diệu này không có giới hạn.

 

Thượng Nhân Tuyên Công giảng vào ngày 12, tháng11, năm1983.

 

------------------------

Chú 1: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ghi:

Tổ thứ năm là tôn giả Đề-đa-ca, người nước Ma-già-đà. Lúc Ngài ra đời, cha Ngài mộng thấy mặt trời màu vàng từ trong nhà xuất hiện, chiếu sáng khắp nơi; phía trước lại có núi lớn trang hoàng bằng nhiều thứ báu, trên đỉnh núi có dòng suối vọt lên, chảy thành bốn dòng. Về sau, Ngài gặp Tổ Cúc-đa, Tổ giải thích cho Ngài: “Núi báu là thân ta; dòng suối vọt lên là pháp vô tận; mặt trời từ trong nhà xuất hiện nay là tướng ông nhập đạo; chiếu sáng khắp nơi là trí tuệ siêu việt của ông”. Tôn giả vốn có tên là Chúng Hương, vì có thay đổi nay sư mới có tên này. Tiếng Phạn: Đề-đa-ca, dịch: Thông Chơn Lượng. Nghe Tổ nói xong, Đề-đa-ca vô cùng vui mừng, nói kệ:


Núi bảy báu nguy nguy

Thường hiện suối trí tuệ

Trở về chơn pháp vị

Độ những người có duyên

巍巍七寶山 

常出智慧泉
迴為真法味 

能度諸有緣

Tổ Cúc-đa cũng nói kệ:

Pháp ta truyền cho ông

Sẽ hiện đại trí tuệ

Mặt trời vàng xuất hiện

Chiếu sáng rực khắp nơi

  我法傳於汝 

當現大智慧
  
金日從屋出 

照耀於天地

Nghe bài kệ vi diệu của Thầy, Đề-đa-ca đỉnh lễ thụ trì.

 

Chú 2: Bài kệ truyền pháp của của Tứ Tổ phó chúc cho Ngũ Tổ thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi:

Tâm từ tâm xưa nay

Bản tâm không có pháp

Có pháp có bản tâm

Không tâm không bản pháp.

  心自本來心 

本心非有法
  有法有本心 

非心非本法  


[1] Đồng chơn nghĩa là “non trẻ và trong sạch”, ý nói là xuất gia lúc còn bé, khi còn thanh tịnh, thuần khiết, vô tư.







Tổ thứ sáu:TÔN GIẢ DI-GIÀ-CA

 

 

Tôn giả Di-già-ca người Trung Ấn, trước đây có học pháp tiên. Nhân lúc Ngũ tổ (Đề-đa-ca) đến nước này, Tôn giả chiêm ngưỡng, đỉnh lễ Ngũ Tổ rồi thưa:

          - Thưa Thầy! Xưa con và Thầy cùng sanh lên cõi trời Đại Phạm, con gặp tiên nhân trao cho pháp tiên, còn Thầy gặp đệ tử của Đức Phật nên tu tập thiền định. Từ đó, theo nghiệp báo, chúng ta mỗi người một đường, đã trải qua sáu kiếp.

Tổ bảo:

- Chia cách nhiều kiếp, lời ông chẳng dối hư. Nay ông nên bỏ tà về chánh và trụ vào Phật thừa.

Tôn giả thưa:

- Thưa Thầy! Hôm nay, may mắn được gặp nhau, há chẳng phải duyên xưa ư? Xin Thầy từ bi giúp con được giải thoát.

Tổ liền cho Tôn giả xuống tóc xuất gia, thụ giới cụ túc và giao phó Đại pháp. Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến Bắc Ấn Độ, phó pháp cho Bà-tu-mật, rồi nhập tam-muội Sư tử phấn tấn, phóng mình lên hư không cao bằng bảy cây đa-la rồi trở lại chỗ ngồi, hóa lửa tự thiêu.

Bài tán:

           Thoắt ngộ nhân xưa


           Ngọn nguồn tỏ rõ


Bỏ tà qui chánh 

So sánh hai bên

       Sư tử phấn tấn

       Là tam-muội gì?

                         Nghìn xưa dằng dặc

          Gió mát muôn nơi

一悟宿因 

脫盡知解 

歸正捨邪 

兩彩一賽
師子奮迅 

是何三昧 

千古悠悠 

清風遍界

 

Thơ rằng:

Dù cho Tiên, Phật có khác đường

Đúng lúc đúng thời cũng đượm hương

Ngẫu nhiên tương hội duyên đời trước

Bao phen chia cách vẫn còn vương

Một sớm hội thông tròn đạo quả

Muôn đời hằng sáng ấy chơn thường

Hậu bối bởi đâu không cảm ứng?

Phàm phu khó đoạn được tình trường

(Tuyên Công Thượng Nhân)

學仙學佛雖殊途 

時節因緣待成熟
偶然相逢原宿定 

歷劫分散未盡疏
一旦契合全道果 

萬古常融是真如
吾輩為何無感應 

凡心難斷沉愛湖

 

Giảng:

Tôn giả Di-già-ca người Trung Ấn, trước đây có học pháp tiên: Tổ thứ sáu-Tôn giả Di-già-ca là người Trung Ấn Độ, ban đầu Ngài học xuất huyền nhập tẫn[1], tu theo pháp môn thần tiên, là người đứng đầu trong tám nghìn vị tiên lúc bấy giờ.

Nhân lúc Ngũ tổ (Đề-đa-ca) đến nước này, Tôn giả chiêm ngưỡng, lễ lạy Ngũ tổ rồi thưa: “Thưa Thầy! Xưa con với Thầy cùng sanh lên cõi trời Đại Phạm, con gặp Tiên nhân trao cho pháp tiên, còn Thầy gặp đệ tử Đức Phật nên tu tập thiền định. Từ đó, theo nghiệp báo, chúng ta mỗi người một đường, đã trải qua sáu kiếp”: Nhân Ngũ Tổ đến nước Ngài, Ngài đến đỉnh lễ Ngũ Tổ và thưa: “Xưa con và sư phụ cùng vãng sinh lên trời Đại Phạm, sau đó con gặp tiên nhân A-tư-đà, tiên nhân truyền pháp môn tu tiên cho con, còn sư phụ gặp đệ tử của Đức Phật, nên tu tập thiền định. Do đó, hai thầy trò chúng ta hết sinh rồi chết, chết rồi lại sinh; vì đi khác đường nên thọ quả báo khác nhau, trải qua sáu kiếp. Thù đồ “殊途” chính là đường đi khác nhau.

Tổ nói: Chia cách nhiều kiếp, lời ông chẳng dối hư. Nay ông nên bỏ tà về chánh và trụ vào Phật thừa: Ngũ Tổ nói: “Lời ông nói rất đúng! Chúng ta cách biệt nhiều kiếp như thế rồi, nay ông có thể bỏ tà đạo trở về chính đạo, nhập vào Đại thừa”. Chi li lụy kiếp “支離累劫” chính là xa cách nhiều kiếp như thế rồi.

Tôn giả thưa: Thưa Thầy! Hôm nay may mắn được gặp nhau, há chẳng phải duyên xưa ư? Xin Thầy từ bi giúp con đươc giải thoát: Tôn giả Di-già-ca thưa: “Thưa Thầy! Nay chúng ta may mắn được gặp nhau, đây há chẳng phải là duyên xưa ư? Trước đây tiên nhân A-tư-đà đã thụ kí cho con: “Sau sáu kiếp, ông sẽ gặp bạn đồng học khi xưa và sẽ độ ông được quả vô lậu”. Xin sư phụ từ bi, giúp con được giải thoát”.

Tổ liền cho Tôn giả xuống tóc xuất gia, thọ giới cụ túc và giao phó Đại pháp: Ngũ Tổ Đề-đa-ca liền cho Tôn giả xuống tóc xuất gia, thọ giới cụ túc và truyền pháp môn tâm ấn của Đức Phật. (Chú 1).

Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến Bắc Ấn Độ, phó pháp cho Bà-tu-mật: Sau khi đắc pháp, Lục Tổ liền đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh. Lúc đến Bắc Thiên Trúc, Tôn giả phó pháp cho Bà-tu-mật.

Rồi nhập tam-muội Sư tử phấn tấn, phóng mình lên hư không cao bằng bảy cây đa-la rồi trở lại chỗ ngồi, hóa lửa tự thiêu: Sau đó, Ngài nhập tam-muội Sư tử phấn tấn, phóng mình lên hư không, cao cách đất bằng bảy cây đa-la; rồi trở lại chỗ ngồi của mình, dùng lửa thật của tam-muội, tức lửa của định này để thiêu thân.

                                                         Bài tán:

Thoắt ngộ nhân xưa, ngọn nguồn tỏ rõ: Khi vừa gặp nhân duyên xưa thì tôn giả Di-già-ca thông suốt và hiểu rõ tất cả.

Chánh qui tà bỏ, so sánh hai bên: Ngài trở về chính giáo, xả bỏ tà giáo; lưỡng thái nhất trại “兩彩一賽” chính là so sánh giữa Phật giáo và Đạo giáo.

Sư tử phấn tấn[2], là tam-muội gì: Sư tử phấn tấn này là tam-muội gì?

Thư thái nghìn xưa, gió mát muôn nơi: Nghìn xưa, thời gian dài như thế, phong cách thanh cao của vị Tổ này vẫn còn khắp pháp giới.

 

                                                         Kệ rằng:

Dù cho Tiên, Phật không chung đường: Học tiên, học Phật, hai con đường này tuy khác nhau nhưng cũng là một.

Đúng lúc đúng thời cũng đượm hương: Khi thời khắc đã tới, nhân duyên đã chín, thì dù có chạy đi đâu chăng nữa, vẫn phải quay đầu trở lại

Ngẫu nhiên tương hội duyên đời trước: Ngũ Tổ và Lục Tổ gặp gỡ nhau, đó là do túc duyên, nhân duyên từ kiếp xưa, đã sẵn bầy.

Bao phen chia cách vẫn còn vương: Tuy chia cách rất nhiều đại kiếp nhưng họ vẫn còn nhớ nhau, vẫn biết được mình.

Một sớm hội thông tròn đạo quả: Một khi hai người khế hợp thì đạo quả đều sẽ thành tựu.

Muôn đời hằng giữ ấy chơn thường: Muôn đời luôn còn mãi chính là tự tánh chơn như này.

Hậu bối bởi đâu  không cảm ứng: Chúng ta cớ sao không thành đạo?

Phàm phu khó đoạn được tình trường: Vì tâm phàm phu khó đoạn trừ, nên tất cả chúng ta đều lưu chuyển trong biển tình ái và bơi lội ở trong đó.

 

Tuyên Công Thượng Nhân giảng  vào ngày 13, tháng 11, năm 1977

 

-------------------------

 

Chú 1: Bài kệ truyền pháp của Ngũ Tổ phó chúc cho Lục Tổ thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục:

Thông đạt pháp bản tâm

Không pháp không phi pháp

Ngộ rồi như chưa ngộ

Không tâm cũng không pháp.

                                  通達本心法 

無法無非法                                       

悟了同未悟 

無心亦無法


[1]“出玄入牝”Tức là pháp xuất hồn. (Xem Kinh Lăng Nghiêm quyển 5).

[2] Sư tử phấn tấn tam-muội 師子奮迅三昧`(Sanskirt: Simha-vijrmbhita-samadhi) cũng gọi là Sư tử uy tam-muội, Sư tử tần thân tam-muội. Gọi tắt Phấn tấn tam-muội. Đây là loại thiền định có uy lực lớn, giống như sức mạnh mẽ, nhanh nhẹn của sư tử, cho nên gọi là Sư tử phấn tấn tam-muội. Theo Hoa Nghiêm Kinh Pháp Giới Thứ Đệ quyển Trung thì Tam-muội này có thể chỉa làm 2 loại:

1.       Dứt trừ các lậu hoặc vô tri nhỏ nhiệm..

2.       Xuất nhập Tam-muội cực kỳ nhanh chóng.

[Có thể tham khảo thêm trong phẩm Thập Định của Kinh Hoa Nghiêm}.

(Trích từ Phật Quang Đại Tự Điển quyển 4 – HT. Thích Quảng Độ dịch)







Tổ thứ bảy: TÔN GIẢ BÀ-TU-MẬT

 

 

 Tôn giả người Bắc Ấn Độ. Nhân khi Lục Tổ (Di-già-ca) du hóa, gặp Tôn giả đang cầm bầu rượu trong tay, Tôn giả tiến đến trước Tổ hỏi:

- Ngài từ đâu đến, muốn đi về đâu?

Tổ bảo:

- Ta từ tâm đến, muốn đến chỗ không

- Ngài biết vật gì trong tay con không?

- Đây là đồ dùng dơ dáy, nhưng nó chứa đồ thanh tịnh.

- Ngài biết con không?

- Ta thì không biết, biết chẳng phải ta.

Sau đó, Lục Tổ cho Tôn giả xuống tóc, truyền giới và trao đại pháp. Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến xứ Ca-ma-la, chấn hưng Phật pháp. Về sau, Tôn giả truyền pháp cho Phật-đà-nan-đề, nhập tam-muội Từ tâm. Sau đó, Ngài lại xuất định và dạy chúng:

Pháp ta đã được

Là chẳng phải có

Muốn rõ cảnh Phật

Phải lìa có, không.

Nói xong, Tôn giả liền nhập tam-muội trở lại, rồi thị hiện Niết- bàn.

 

Bài tán:

Mây hiền điềm lành

Sắc vàng lấp lánh

Tay cầm bầu rượu

Nhắm nguồn về thẳng.

Từ tâm ứng hiện

Nắp bầu mở ra

Nói lời răn chúng

Nhâm nhi rượu nồng.

雲呈祥瑞 

金色晃燁 

手持觸器 

歸源路直
現慈心相 

膠盆拈出 

 說法示眾 

胡餅呷汁

 

Kệ rằng:

Bắc Thiên Tây Trúc sinh thánh nhân

Tay cầm bầu rượu hỏi tiền nhân

Đến từ tự tánh vô sở khứ

Biết rằng vô ngã có chi thân

Tâm từ chánh định nghe thông suốt

Ánh bi soi khắp chốn sa trần

Sen vàng tiếp nối trao người học

Ma-ha-bát-nhã đúng linh chân

(Ngày 14 tháng12 năm1977 Tuyên Công Thượng Nhân)

北天竺國生聖人 

手持觸器問前因

從自性來無所去 

識即非我有何人

慈心正定聽去入 

悲光遍照滿乾坤

金色蓮華接學者 

摩訶般若秘靈文

 

Giảng: (Phần này nguyên bản bị mất, nên các đệ tử bổ sung phần bạch thoại).

Tôn giả người Bắc Ấn Độ: Tổ thứ bảy tên là Bà-tu-mật, người nước Bắc Thiên Trúc. Ngài thường mặc áo quần sạch sẽ, tay cầm bầu rượu, lẩn thẩn trên đường, ngâm tụng, hoặc hò hét. Vì vậy mọi người cho Ngài là người điên.

Nhân khi  Lục tổ (Di-già-ca) du hóa, gặp Tôn giả đang cầm bầu rượu trong tay: Tổ thứ sáu - Tôn giả Di-già-ca vốn là người Trung Ấn. Sau khi đắc pháp, Tổ du hóa khắp nơi dẫn dắt chúng sinh. Một hôm, đến nước Bắc Thiên Trúc (Bắc Ấn Độ), thấy mây lành sắc vàng phủ khắp trên bức tường ngắn dùng tránh tên trên tường thành và thấy khí tốt bay lên, Tổ không nhịn được, buộc miệng nói: “Ồ! Đây là hiện tượng có đạo nhân! Nơi đây nhất định có thánh nhân thừa kế pháp nhãn của ta!”. Thế rồi, Tổ đi vào thành và thấy Tôn giả cầm bình rượu, lẩn thẩn đi trên đường. vừa thấy Lục Tổ, Tôn giả Bà-tu-mật liền tiến đến trước Tổ hỏi: Ngài từ đâu đến, muốn đi về đâu? Nghịch “” là tiến về phía trước. Ngài tiến đến trước hỏi Lục Tổ: “Thưa sư phụ! Ngài từ đâu đến và muốn đi về đâu?”. Tổ bảo: Ta từ tâm đến, muốn đến chỗ không. Lục Tổ đáp: “Ta từ tự tính đến, không có một chỗ để đi”. Tôn giả hỏi: Ngài biết vật gì trong tay con không?  Tôn giả lại hỏi: “Ngài biết vật gì trong tay tôi không?”

Tổ đáp: Đây là đồ chứa vật bất tịnh. Lục Tổ liền nói: “Đây là vật chứa đồ dơ bẩn; tuy là vật không sạch sẽ nhưng bên trong lại tinh khiết”. Xúc “” là dơ bẩn không sạch.

Tôn giả hỏi: Ngài biết con không? Tôn giả Bà-tu-mật lại hỏi: “Thế sư phụ biết con không?”

Tổ đáp: Ta thì không biết, biết chẳng phải ta. Lục Tổ liền nói:  “Ta không biết ông! Ta làm sao biết ông? Nếu ta nói biết ông thì không phải là ta!”. Tổ lại nói:  “Ông nói họ tên của mình! Ta sẽ nói nhân duyên quá khứ của ông”. Tôn giả Bà-tu-mật đáp:  “Con từ vô lượng kiếp đến nay, cho đến sinh vào nhà này, họ Phả-la-đọa, tên Bà-tu-mật”. Lục Tổ nói:  “Sư phụ ta là Tôn giả Đề-đa-ca từng nói: Trong thời Đức Phật trụ thế, có một lần du hóa đến Bắc Ấn Độ, Ngài nói với Tôn giả A-nan: ‘Sau khi Ta diệt độ ba trăm năm, nước này sẽ có một thánh nhân xuất hiện, họ Phả-la-đọa, tên Bà-tu-mật, ông ấy sẽ là Tổ thứ bảy’. Ông xem! Thế Tôn đã sớm thụ kí cho ông, vậy ông nên xuất gia’. Lúc ấy, Tôn giả Bà-tu-mật quăng bình rượu xuống đất, đỉnh lễ Lục Tổ, rồi đứng qua một bên thưa: ‘ Thưa Thầy! Nhớ lại trong vô lượng kiếp thời quá khứ, con đã từng là một thí chủ. Bấy giờ, con cúng dường bảo tòa cho một vị Phật, vị Phật đó đã thụ kí cho con: ‘Tương lai vào hiền kiếp, trong pháp của Phật thích-ca Mâu-ni, ông sẽ tuyên dương truyền bá Thánh giáo’. Điều này rất phù hợp với những lời hiện tại của sư phụ nói, xin Ngài độ con thoát khỏi sinh tử!”

Sau đó, Lục Tổ cho Tôn giả xuống tóc, truyền giới và giao phó đại pháp: Vì vậy, Lục Tổ cho Ngài xuống tóc xuất gia, thụ giới cụ túc, truyền pháp tâm ấn tâm và dặn dò Ngài chớ để chính pháp đoạn diệt. Bài kệ truyền pháp của Lục tổ như sau:

Vô tâm không thể đắc

Nói đắc không gọi pháp

Nếu rõ tâm, phi tâm

Mới rõ tâm, tâm pháp

無心無可得 

說得不名法

若了心非心 

始了心心法

Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến xứ Ca-ma-la chấn hưng Phật pháp. Về sau, Tôn giả truyền pháp cho Phật-đà-nan-đề: Sau khi đắc pháp, Bà-tu-mật du phương giáo hóa, đến nước Ma-ca-la truyền bá và tuyên dương Phật pháp. Sau đó, tại nước này, Tổ truyền pháp tâm ấn cho Tổ thứ tám, là Tôn giả Phật-đà-nan-đề.

Rồi nhập tam-muội Từ tâm; sau đó, Ngài xuất định, dạy chúng: Sau khi ấn chứng cho Tổ thứ tám, tôn giả Bà-tu-mật liền nhập định tam-muội Từ tâm, rồi xuất định, dạy đại chúng:

Pháp ta đã được là chẳng phải có: Pháp ta đạt được chẳng phải đó là cái “có”, chẳng phải là có cái gì được.

        Muốn rõ cảnh Phật phải lìa có, không: Nếu muốn biết cảnh giới của Phật thì phải lìa cả cái “có” và cái “không”, cũng là nghĩa chẳng “có” mà chẳng “không”.

Nói xong, Tôn giả liền nhập tam-muội trở lại, thị hiện Niết-bàn: Sau khi nói xong, tôn giả Bà-tu-mật, nhập định trở lại, rồi viên tịch.

 

Bài tán:

Mây hiện điềm lành, sắc vàng lấp lánh: Mây này xuất hiện là một loại khí lành rất tốt, sắc vàng rực rỡ chiếu khắp bầu trời.

Tay cầm bầu rượu, nhắm nguồn về thẳng: Trên tay Ngài cầm một bình rượu; cầm bình rượu, đó cũng là một thứ biểu hiện pháp khí. “Quy nguyên lộ trực 歸源路直”, đường về nhà rất thẳng; đây là nói Ngài đã nhận ra mặt mũi xưa nay của mình, không còn lạc đường nữa.

Từ tâm ứng hiện, nắp bầu mở ra: Ngài nhập tam-muội Từ tâm, thị hiện một tướng của tâm từ; “Giao bồn niêm xuất 膠盆拈出” là như lấy từ trong bồn nhựa ra.

Nói lời răn chúng, nhâm nhi rượu nồng: Ngài thuyết pháp khai thị cho đại chúng, “hồ bính hạp trấp 胡餅呷汁” là như nước đường từ trong bánh nhỏ ra.

                                                     Kệ rằng:

Bắc Thiên Tây trúc sinh thánh nhân: Nước Bắc Thiên Trúc xuất hiện một vị thánh nhân. Đó là nói Tổ thứ bảy- tôn giả Bà-tu-mật.

Tay cầm bầu rượu hỏi tiền nhân: Trên tay Ngài cầm một bầu rượu, đến xin hỏi Tổ thứ sáu về nhân duyên đời trước.

Đến từ tự tánh vô sở khứ: Tổ thứ sáu nói với Ngài: “Ta đến từ tự tính, không có một chỗ để đi”.

Biết rằng vô ngã có chi thân: Nếu ta nói biết ông, thì đó không phải là ta rồi! Không phải là ta, thì là ai chứ? Đây chính là nói Ngài hãy suy nghĩ đi!

Tâm từ chánh định nghe thông suốt: Tôn giả Bà-tu-mật đạt được chính định Từ tâm. Ngài xuất định, nhập định là việc bình thường.

Ánh bi soi khắp chốn sa trần: Ánh sáng từ bi của Ngài chiếu khắp trời đất.

Sen vàng tiếp nối trao người học: Ở trong hội Linh Sơn, Đức Phật đưa hoa sen vàng dạy chúng. Lúc ấy, tất cả đại chúng đều im lặng, chỉ có Đầu-đà sắc vàng[1]- Tôn giả Ca-diếp mỉm cười. Đức Phật liền truyền chính pháp nhãn tạng cho tôn giả Ca-diếp. Tôn giả Ca-diếp lại truyền cho tôn giả A-nan. Pháp phái này từng đời lưu truyền đến về sau để dẫn dắt người học sau này.

Ma-ha-bát-nhã đúng linh chân: Ở đây dùng tâm ấn tâm, bí mật không tuyên bố pháp môn đại trí tuệ; đó là linh văn và chính khí của trời đất, vi diệu không thể nói bằng lời.



[1] Đầu-đà sắc vàng tức là chỉ cho Tôn giả Ca Diếp.  Đầu-đà bởi vì ngài hành hạnh khổ hạnh (đầu-đà) vào bậc nhất trong các đệ tử của Đức Phật, được tán thán là “Đầu-đà đệ nhất” (cũng như Tôn giả A-nan là “Đa văn đệ nhất” ). Còn “sắc vàng”  bởi vì trên thân Tôn giả Ca Diếp có ánh sáng kim quang có thể che mờ tất cả các ánh sáng khác, giống như uống lấy tất cả các ánh sáng vậy. Tên của ngài dịch là “ẩm quang”, còn gọi là “quang ba”.







Tổ thứ 8:TÔN GIẢ PHẬT-ĐÀ-NAN-ĐỀ

 


Tôn giả người xứ Ca-ma-la, trên đỉnh đầu có nhục kế, biện tài vô ngại. Lần đầu được gặp tổ thứ bảy (Bà-tu-mật) Tôn giả liền luận nghĩa.

Tổ bảo:

- Nhân giả! Luận tức không có nghĩa, mà nghĩa tức không có luận. Muốn luận nghĩa mà rốt cuộc chẳng phải là luận nghĩa.

Tôn giả biết nghĩa Tổ nói ra hơn hẳn mình, lòng rất khâm phục, thưa:

- Thưa Thầy! Con muốn cầu đạo để được nếm vị cam lồ.

Tổ liền cho Tôn giả cạo tóc xuất gia thọ giới cụ túc, truyền trao đại pháp và nói kệ:

Tâm đồng cõi hư không

Cũng đồng pháp hư không

Lúc chứng được hư không

Không pháp sai, pháp đúng

Đắc pháp rồi, Tôn giả thống lãnh đồ chúng, du hóa đến nước Đề-già và truyền pháp cho Phục-đà-mật-đa. Sau đó, Ngài hiện thần biến và trở về chỗ cũ, ngồi ngay thẳng thị tịch. Bấy giờ, đồ chúng xây bảo tháp chôn cất toàn thân ngài.

Bài tán:

Luận tức phi nghĩa

Một lời đủ thấu

Quán triệt nguồn tâm

Không cần trân bảo

Mở cửa cam lồ

Canh ba trời sáng

Vằng vặc chiếu soi

Xưa nay vẫn thế

論即非義 

一語便了 

廓徹靈源 

撒卻珍寶

甘露門開

三更日杲

今之古之

清光皎皎

 

                                    Kệ rằng:

Đầu sinh nhục kế lộ chân nguyên

Tướng hảo trang nghiêm, nguyện lực kiên

Vô ngại biện tài thâm Bát-nhã

Mở bày luận giải lý u huyền

Tâm đồng hư không siêu pháp giới

Bao trùm vũ trụ nhập ánh thiên

Hiện xong thần biến về bản tọa

Canh ba trời sáng tựa thanh thiên.

(Tuyên Công Thượng Nhân)

頂生肉髻示真源 

隨形相好願力堅

無礙辯才深般若 

大開圓解義論玄

心同虛空超法界 

量包宇宙入微先

即現神變還本座 

三更杲日似明天

 

Giảng:

Tôn giả người xứ Ca-ma-la: Tổ thứ tám tên Phật-đà-nan-đề, là người xứ Ca-ma-la, nước Ấn Độ.

Trên đỉnh đầu có nhục kế, biện tài vô ngại: Ngài mới sinh ra, trên đỉnh đầu có nhục kế. Quý vị nhìn chân dung của Ngài, trên đỉnh có nhục kế, tức có thịt đùn lại. Bất kể luận bàn với ai, Ngài nhất định sẽ thắng.

Lần đầu được gặp Tổ thứ bảy (Bà-tu-mật ) Tôn giả liền luận nghĩa: Ngài vừa gặp Tổ thứ bảy-Bà-tu-mật, liền đến luận nghĩa với Tổ. Luận nghĩa: nghĩa là mọi người đàm luận nghĩa lí. Ở đây không “nói” nghĩa trong phạm vi của chữ, nên không phải là “nghị luận”.

Tổ nói: Nhân giả! Luận tức không có nghĩa, mà nghĩa tức không có luận. Muốn luận nghĩa mà rốt cuộc chẳng phải là luận nghĩa: Tổ nói: “Nầy, nhân giả! Lý luận chẳng phải là chân nghĩa. ‘Nghĩa tức chẳng luận’, khi ta đã có chân nghĩa thì chẳng thể lý luận được. Nếu tính ‘luận nghĩa’, tức là mang chân lý ra luận bàn, chẳng hạn như khi ta khởi lên ý nghĩ nghiên cứu cái chân nghĩa, thì đó chẳng phải là chân lý. Nói ‘nghĩa’ là nói chân lý đích thực.

Tôn giả biết nghĩa Tổ nói ra hơn hẳn mình, lòng rất khâm phục: Ở đây, tôn giả Phật-đà-nan-đề biết đạo lí của Tổ thứ bảy cao hơn Ngài. Vì đạo lí chân chính đó ngài không thể nói được, nên trong lòng rất khâm phục Tổ thư bảy. Thưa: Thưa Ngài Con muốn cầu đạo để được nếm vị cam lồ: Thưa: “Thưa Thầy! Nay con mong muốn theo Thầy cầu đạo để được nếm pháp vị cam lồ này”.   Tổ liền cho Ngài cạo tóc xuất gia, thọ giới cụ túc và truyền trao đại pháp: Lúc ấy, Tổ thứ bảy cho Ngài xuống tóc xuất gia, truyền giới Cụ túc và giao phó đại pháp tâm ấn. Kệ rằng: Lại nói cho Ngài một bài kệ:

Tâm đồng cõi hư không, cũng đồng hư không pháp: Tâm này với hư không là một, nay ta chỉ dạy cho ông pháp hư không này.

Lúc chứng được hư không, không pháp sai, pháp đúng: Lúc quý vị đã chứng được cảnh giới hư không này, thì “không pháp sai pháp đúng”, đó mới là không có nghĩa gì để nghị luận.

Đắc pháp rồi, Tôn giả thống lãnh đồ chúng, du hóa đến nước Đề-già và truyền pháp cho Phục-đà-mật-đa: Sau khi đắc pháp, Tôn giả liền dẫn dắt đồ chúng, du phương giáo hóa. Đến nước Đề-ca Ngài truyền pháp môn tâm ấn này cho Tổ thứ chín- tôn giả Phục-đà-mật-đa. Rồi hiện thần biến và trở về chỗ cũ, ngồi ngay thẳng thị tịch: Sau đó, Ngài liền hiện thần thông biến hóa, vọt thân lên hư không, hiện mưới tam biến hóa, rồi trở lại chỗ ngồi của mình, ngay đó ngồi kiết-già mà thị tịch. Bấy giờ, đồ chúng xây bảo tháp chôn cất toàn thân Ngài: Bấy giờ, mọi người xây bảo tháp, mai táng toàn nhục thân của Ngài.

                                                Bài tán:

Luận tức phi nghĩa, một lời đủ thấu: “Nếu ông thảo luận hoặc nghiên cứu thì không có chân lí”. Tổ thứ bảy vừa nói một câu như vậy, thì Tổ thứ tám liền khai ngộ.

Quán triệt nguồn tâm, không cần trân bảo: Khi đã quán triệt được bổn lai diện mục, nghĩa là đã khai ngộ rồi thì các thứ của quý chẳng cần thiết nữa.

Mở cửa cam lồ, canh ba trời sáng: Canh ba là lúc nửa đêm, mà trời đã sáng. Điều này ngụ ý rằng khi pháp môn cam lồ đã khai mở hành giả sẽ tỏa sáng từ trong tăm tối, giống như giữa đêm khuya mà trời hừng sáng.

Vằng vặc chiếu soi, xưa nay vẫn thế: Hiện tại như thế, xưa nay cũng như thế, ánh sáng thanh tịnh này rực rỡ vô cùng.

 

Kệ rằng:

Đầu sinh nhục kế lộ chân nguyên: Trên đỉnh đầu có nhục kế, chính là biểu hiện Ngài có nguồn gốc; nguồn gốc của Ngài rất lớn, là từ chỗ Đức Phật đến. Ngài là người có căn cơ.

Tướng hảo trang nghiêm nguyện lực kiên: Tướng hảo của Ngài ở đây, cũng là chỉ nhục kế này; đây là một tướng trong ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp. “Nguyện lực kiên 願力堅”, nguyện lực của Ngài phát ra từ xa xưa, quyết định không thu hồi lại. Nguyện lực Ngài phát ra phải luôn luôn như vậy.

Vô ngại biện tài thâm Bát-nhã: Ngài có tam-muội biện tài vô ngại và trí tuệ rất sâu rộng.

Mở bày luận giải lý u huyền: Ngài hoàn toàn khai ngộ và hiểu rõ, nên lúc ấy Ngài và Tổ thứ bảy nghị luận với nhau rất vi diệu. Tổ thứ bảy nói với Ngài, luận tức chẳng phải nghĩa, nghĩa tức chẳng phải luận, đưa ra nghị luận tức chẳng phải nghĩa, cũng chính là nói: “luận tức bất nghĩa, nghĩa tức bất luận 論即不義,義即不論”. “nghĩa luận huyền 義論玄”, Ngài nói nghĩa này rất huyền diệu.

Tâm đồng hư không siêu pháp giới: Tâm Ngài giống như hư không, thậm chí vượt khỏi pháp giới lớn như thế.

Bao trùm vũ trụ nhập ánh thiên: Tâm Ngài rộng lớn chứa đựng được cả vũ trụ, lại có thể vào trong một vi trần-hạt bụi nhỏ như vậy.  “nhập vi tiên 入微先”, đây là một cách thuận vần của kệ tụng. Ngài có thể vào trong hạt bụi, chính là trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, cũng chính là lí “hạt bụi dung chứa cả cảnh giới” của kinh Hoa Nghiêm.

Hiện xong thần biến về bản tọa: Ở trong hư không Ngài hiện thần biến này, sau đó trở lại ngồi trên tòa cũ của mình.

Canh ba trời sáng tựa thanh thiên: Tuy là canh ba nhưng lại giống như lúc mặt trời mọc, canh ba mà chiếu sáng như ban ngày. Đây không phải là “ban ngày”, mà giống như ban ngày.

Tuyên Công Thương Nhân giảng vào ngày 1 tháng 3 năm 1978.


 
 
 



Tổ thứ chín: TÔN GIẢ PHỤC-ĐÀ-MẬT-ĐA

 

Tôn giả Phục-đà-mật-đa người xứ Đề-già, đã năm mươi tuổi mà miệng chưa từng nói một lời, chân chưa từng đi một bước. Một hôm, gặp Tổ thứ tám (Phật-đà-nan-đề), nghe Tổ nói, Phục-đà-mật-đa đúng là đệ tử của Tổ, Tôn giả liền đứng dậy, đỉnh lễ và thưa:

Cha mẹ chẳng phải thân

Thì ai là thân nhất?

Phật chẳng dạy đạo ta

Thì ai dạy hay nhất?

Tổ bảo:

Lời nói của ông thân với tâm ông nhất, cha mẹ cũng không bằng. Hạnh ông hiệp với đạo, chính là tâm chư Phật.

Nghe kệ xong, Tôn giả liền đi bảy bước.

Tổ bảo:

Đứa bé này xưa đã từng gặp Đức Phật và phát nguyện xuất gia nhưng sợ cha mẹ không cho phép nên chẳng nói, chẳng đi vậy!

Nghe Tổ nói, cha mẹ Ngài liền cho con xuất gia. Tổ cho Ngài xuống tóc, thụ giới cụ túc và truyền trao đại pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả đến miền Trung Ấn Độ hành hóa và truyền pháp cho Nan Sinh, rồi nhập diệt tận định mà vào Niết-bàn.

Bài tán:

Miệng chưa từng mở

Nói khắp mọi người

Chân chưa từng bước

Đi khắp hư không

Chẳng màng tôn quý

Phật Tổ đồng hành

Chân đi bảy bước

 Thành một giai thoại.

語未出口 

言滿天下 

足未出戶 

虛空遍跨

尊貴不居 

佛祖並駕 

周行七步 

已成話欛

 

Kệ rằng:

Chẳng nói chẳng đi bởi nguyện sinh

Song thân chẳng nỡ dứt thâm tình

Thân tâm bản tánh đều tròn hiếu

Thầy Tổ, Phật-đà thảy kính tin

Bẩm tánh phú cho tài chọn pháp

Khéo thay anh tuấn gặp thầy tinh

Một lời thức tỉnh ngay trò giỏi

Mừng rỡ ngợi khen thật đáng kinh!

(Ngày 5, tháng 3, năm 1978 Tuyên Công Thượng Nhân)

不言不履乘願來

椿萱難捨體親懷

孝身孝心孝本性

敬師敬祖敬佛臺

獨具異稟擇法眼 

巧遇良範識英才

一言喚醒真弟子 

手舞足蹈嘆奇哉

 

Giảng: (Phần này bản cảo bị thất lạc, nên đệ tử bổ sung phần giảng bạch thoại).

Tôn giả Phục-đà-mật-đa người xứ Đề-già, đã năm mươi tuổi mà miệng chưa từng nói một lời, chân chưa từng đi một bước: Tổ thứ chín-tôn giả Phục-đà-mật-đa, họ Tì-xá-la, người xứ Đề-ca. Đề-ca là tên gọi một nước của Ấn Độ thời xưa. Đến năm mươi tuổi mà Ngài chưa nói được, cũng không đi được. Ngài có thật là không biết nói, không biết đi không? Đó là vì sự tu hành đời trước của Ngài, không thích hợp với pháp dơ uế của thế gian, nên chân Ngài không bước ra khỏi cửa, miệng không nói một lời đúng hay sai.

Một hôm, được gặp Tổ thứ tám (Phật-đà-nan-đề), nghe Tổ nói, Phục-đà-mật-đa đúng là đệ tử của Tổ: Bấy giờ, Tổ thứ tám-Phật-đà-nan-đề lãnh đạo đồ chúng, hành hóa đến nước Đề-ca. Lúc gần đến gia đình họ Tì-xá-la, thấy trên mái nhà của họ có ánh sáng trắng bay vút lên, Ngài liền nói với đồ chúng: “Gia đình này nhất định có thánh nhân, người ấy không nói được, thật đúng là căn khí Đại thừa. Người ấy không bước được, vì biết mỗi bước đi sẽ va chạm đến những thứ dơ uế”. Sau khi Tổ thứ tám nói xong, trưởng giả họ Tì-xá-la liền bước ra, đỉnh lễ Tổ và mời vào nhà. Ông ta hỏi Tổ cần giúp đỡ gì không, Tổ nói: “Tôi cần một người làm thị giả”. Trưởng giả họ Tì-xá-la chỉ Phục-đà-mật-đa nói: “Dạ thưa Ngài! Con tôi, tên là Phục-đà-mật-đa, năm nay đã năm mươi tuổi rồi, nhưng từ trước đến nay, miệng không nói một lời, chân chưa hề chạm đất, nó có thích hợp làm thị giả của Ngài không?” Tổ nói: “Nếu đứa bé giống như lời ông nói thì nó thật là một đồ đệ tốt của tôi rồi!”

Tôn giả liền đứng dậy đỉnh lễ và thưa: Vừa nghe Tổ nói, tôn giả Phục-đà-mật-đa lập tức đứng dậy, đỉnh lễ Tổ và thưa. Các vị thấy chăng?  Không những Ngài đứng dậy mà còn cất tiếng nói nữa. Quả thật Ngài là người cầu pháp hết sức cung kính!

          Ngài hỏi Tổ: “Cha mẹ chẳng phải thân thì ai là thân nhất?: Nếu cha mẹ không phải là người thân thiết, thì ai là người thân nhất?

Phật chẳng dạy đạo ta thì ai dạy hay nhất?: Nếu chư Phật không phải là thầy hướng dẫn ta, thì ai mới là người truyền đạo cho ta tốt nhất?”

Tổ nói: Tổ thứ tám nói: Lời nói của ông là thân với tâm ông nhất, cha mẹ không thân với ông bằng: Nếu như lời nói của ông mà theo sát tâm ông, hay nói khác, lời nói và tâm như một thì cha mẹ cũng không thân thiết hơn điều này. Hạnh ông hiệp với đạo, chính là tâm chư Phật: Nếu hành vi của ông và đạo hợp nhất thì đạo tâm của ông cũng chính là tâm của chư Phật rồi.”

Nghe kệ xong, Tôn giả liền đi bảy bước: Sau khi nghe Tổ thứ tám nói một bài kệ, tôn giả Phục-đà-mật-đa liền đi một bước đến bảy bước. Đi bảy bước này là tướng “xuất thai” trong “tám tướng thành đạo”. Từ xưa đến nay chư Phật giáng thần đều đi bảy bước. Tuy Ngài không phải mới ra đời, nhưng trước đây Ngài chưa từng đi, vì vậy bây giờ Ngài vừa đặt chân xuống đất, liền đi bảy bước (Chú 1).

Tổ nói: Đứa bé này xưa đã từng gặp Đức Phật và phát nguyện xuất gia nhưng sợ cha mẹ không cho, nên chẳng nói, chẳng đi vậy. Tổ thứ tám nói:  “Đứa bé này từ xưa đã từng gặp Đức Phật và phát nguyện xuất gia tu hành, nên không thọ dụng các thứ ô nhiễm. Nhưng sợ cha mẹ không cho xuất gia, nên Ngài không nói cũng không đi.”

Nghe Tổ nói, cha mẹ Ngài liền cho con xuất gia: Nghe Tổ thứ tám nói như vậy, cha mẹ Ngài dù thương con cũng đành chấp nhận cho Ngài xuất gia tu hành.

Tổ liền cho Ngài xuống tóc, thụ giới cụ túc và truyền trao đại pháp: Tổ thứ tám liền cạo tóc, trao giới cụ túc và truyền pháp môn tâm ấn tâm cho Ngài (Chú 2).

Sau khi đắc pháp, Tôn giả đến miền Trung Ấn Độ hành hóa và truyền pháp cho Nan Sinh: Sau khi đắc pháp, tôn giả đi khắp nơi hoằng dương Phật pháp. Đến Trung Ấn Độ, Ngài truyền pháp cho Nan Sinh. Nan Sinh chính là Tổ thứ mười, vốn có tên là Hiếp tôn giả. Vì mẹ Ngài sinh Ngài rất khó, Ngài ở trong thai mẹ sáu mươi năm mới sinh ra.

Rồi nhập diệt tận định mà vào Niết-bàn: Sau đó, Tổ thứ chín nhập định diệt tận vô dư rồi vào Niết-bàn.

                                                                   Bài tán:

Miệng chưa từng mở, nói khắp mọi người: Tuy Ngài chưa từng nói nhưng lời nói của Ngài đã nói khắp thiên hạ. Ở đây nói Ngài thuyết pháp tương ưng với đạo, đúng với đạo.

Chân chưa từng bước, đi khắp hư không: Tuy Ngài chưa từng đi nhưng bước chân của Ngài đã đi khắp hư không.

Chẳng màng tôn qúy, Phật Tổ đồng hành: Ngài là bậc rất tôn quí, nhưng Ngài không chấp vào điều đó, không một chút kiêu ngạo tự mãn. Công đức của Ngài có thể sánh ngang với chư Phật chư Tổ.

Chân đi bảy bước, thành một giai thoại: Ngài đi bảy bước như thế, câu chuyện này đã trở thành một công án của Phật giáo, một giai thoại!

 

Kệ rằng:

Chẳng nói chẳng đi theo nguyện sinh: Tuy Ngài không nói, cũng không đi nhưng lại theo nguyện tái sinh và muốn xuất gia tu hành.

Song thân chẳng nỡ dứt thâm tình: Sở dĩ Ngài giả ngu giả dại như vậy, chính vì Ngài biết được lòng cha mẹ mình không nỡ cho Ngài xuất gia.

Thân tâm bản tánh đều tròn hiếu: Ngài thân cũng tận hiếu, tâm cũng tận hiếu, thậm chí bản tính cũng tận hiếu.

Thầy Tổ Phật-đà thảy kính tin: Ngài kính Thầy, kính Tổ, Kính Phật.

Bẩm tánh phú cho tài chọn pháp : Đặc biệt là Ngài sẵn có con mắt chọn pháp, nên không phải theo học thầy một cách tùy tiện.

 

Khéo thay anh tuấn gặp thầy tinh: Điều may là gặp được bậc Thầy tài giỏi nên mới biết Ngài là người anh tài, một trong hàng long tượng của Phật pháp.

Một lời thức tỉnh ngay trò giỏi: Một câu “đệ tử giỏi”  của Tổ làm Ngài tỉnh ngộ.

Mừng rỡ ngợi khen thật đáng kinh: Lúc ấy, Ngài vô cùng phấn chấn vừa nói vừa đi. Vì vậy mọi người vừa nghe công án này đều tán thán và kinh ngạc. 


------------------------

Chú 1: Tám tướng thành đạo là: Từ trời Đâu-suất giáng thần, trụ thai, xuất thai, xuất gia, điều phục ma, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn.

Chú 2: Bài kệ truyền pháp của Tổ thứ tám phó chúc cho Tổ thứ chín trong Cảnh Đức Truyền Lục và Chỉ Nguyệt Lục:


Hư không không trong ngoài

Tâm pháp cũng như vậy

Nếu rõ được hư không

Đạt đến lí chân như.

虛空無內外

心法亦如此

若了虛空故 

是達真如理




Tổ thứ mười:  HIẾP TÔN GIẢ

 

Tôn giả người Trung Ấn, nhân lúc theo cha đến yết kiến Tổ thứ chín (Phục-đà-mật-đa), cha tôn giả thưa:

- Thưa Ngài! Đứa trẻ này ở trong thai sáu mươi năm, do đó con đặt tên là Nan Sanh và từng có vị tiên bảo: ‘Đứa trẻ này khác thường, sẽ là bậc pháp khí’. Nay được gặp Tổ, xin Ngài cho nó xuất gia.

Tổ liền cho Tôn giả xuống tóc xuất gia. Trong lúc, Tôn giả yết-ma thụ giới cụ túc, có ánh sáng lạ chiếu khắp tòa và Ngài thấy hiện ra trước mặt hai mươi mốt viên xá-lợi. Từ đó, Tôn giả tinh tấn tu hành không biết mệt mỏi, hông chẳng hề dính chiếu nên người đời gọi Tôn giả là Hiếp tôn giả. Sau đó, Tôn giả được Tổ truyền trao đại pháp. Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến nước Hoa Thị và truyền pháp cho Phú-na-dạ-xa. Truyền pháp xong, Tôn giả liền hiện thần biến, hóa lửa tự thiêu rồi nhập Niết-bàn. Bốn chúng dùng y bọc xá-lợi và khắp nơi đều xây tháp cúng dường.

                                          Bài tán:

Hông không dính chiếu

Hành đạo tiến tu

Khắp tòa điềm sáng

Vách sắt phá tung

Sáu cách đất rung

Mày ngang mũi thẳng

Làm gương trời người

Mài từ nghìn xưa.

脅不至蓆 

於道何切 

滿座祥光 

衝破鐵壁
地搖六震 

眉橫鼻直 

千古萬古 

為人天則

 

Kệ rằng:

Lưng không dính chiếu nhẫn khó hành

Mẫu mực làm nền dạy hậu sanh

Tùng bách chịu rét  người ngưỡng mộ

Nhật nguyệt tỏa sáng dáng thêm xinh

Khí tiết thanh nhã không người sánh

Chí cao nguyện lớn hiếm kẻ bằng

Xưa nay khắp chốn đều nương đức

Tướng tốt mây lành chúng kính tin

                                    (Tuyên Công Thượng Nhân)

或說偈曰 宣公上人作

脅不著蓆行力堅

以身作則示垂先
松柏耐寒人仰慕

日月普照各開顏
高風亮節無倫比

大志偉願有誰全
古今中外皆蒙潤

祥光瑞靄眾所瞻

 

GING:

Ngài người Trung Ấn: Tổ thứ Mười-Hiếp tôn giả là người miền Trung Ấn Độ. Tại sao gọi Ngài là Hiếp tôn giả? Vì Tôn giả luôn tọa thiền, lưng không hề dính chiếu. Ngài không giống chúng ta, những đứa trẻ đặt xuống thì nằm, Ngài không phải như vậy. Nếu Ngài ngồi chỗ nào thì lưng không hề dính chiếu. Người ta thường gọi Ngài là “Hiếp tôn giả”.

Nhân lúc theo cha đến yết kiến Tổ thứ 9 (Phục-đà-mật-đa), cha Ngài thưa: Tôn giả theo cha mình đến yết kiến Tổ thứ chín, cha Tôn giả thưa: “Thưa Ngài! Đứa trẻ này ở trong thai sáu mươi năm, do đó con đặt tên là Nan Sanh: Tôn giả ở trong thai sáu mươi năm. Quý vị nghĩ coi! Ngài sanh ra không dễ dàng. Sáu mươi năm mới ra khỏi thai! Vậy chẳng phải là khó sanh hay sao? Giống như Lão tử người Trung Quốc, ở trong thai mẹ đến tám mươi năm, vì vậy gọi là Lão tử. Người này so với Tôn giả còn nhiều hơn hai mươi năm. Từng có vị tiên bảo: Đứa trẻ này khác thường, sẽ là bậc pháp khí. Nay gặp được Tổ, xin Ngài cho nó xuất gia: Từng có vị tiên nói: “Đứa bé này không phải là một đứa bé đái dầm thông thường, mà là một đứa bé không đái dầm, tương lai sẽ là bậc pháp khí trong Phật pháp. Nay gặp được Ngài-Tổ thứ chín, con xin Ngài cho nó được xuất gia”.

Tổ liền cho Tôn giả xuống tóc xuất gia, thụ giới cụ túc: Tổ thứ chín liền cho Tôn giả xuống tóc và thụ giới cụ túc. Trong lúc, Tôn giả yết-ma thụ giới cụ túc, có ánh sáng lạ chiếu khắp tòa và Ngài thấy hiện ra trước mặt hai mươi mốt viên xá-lợi: Trong lúc đang nói ba lần yết-ma truyền giới cụ túc cho Tôn giả thì có ánh sáng lành chiếu rực trên tòa và Ngài cảm ứng thấy được hai mươi mốt viên xá-lợi xuất hiện (nguyên văn ghi “tam thất lạp”, có nghĩa là ba lần bảy tức hai mươi mốt hạt).

Từ đó, Tôn giả tinh tấn tu hành không biết mệt mỏi, hông chẳng hề dính chiếu nên người đời gọi Ngài là Hiếp tôn giả: Vì thế, sau khi thụ giới, Tôn giả tinh tấn không hề mệt mỏi. Chúng ta tu hành thì cảm thấy mệt mỏi còn Ngài không hề biết mệt mỏi là gì, lưng Ngài không hề chạm đến giường. Vì vậy, mọi người gọi Ngài là “Hiếp tôn giả”.

Sau đó, Tôn giả được Tổ truyền đại pháp: Sau đó, Tổ thứ chín truyền pháp môn tâm ấn cho Ngài(1). Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến nước Hoa Thị và truyền pháp cho Phú-na-dạ-xa: Tổ thứ mười được thọ ấn chứng. Sau khi được truyền pháp, Ngài đến nước Hoa Thị. Nước Hoa Thị là tên một nước của Ấn Độ. Tổ thứ mười truyền pháp cho tôn giả Phú-na-dạ-xa.

Truyền pháp xong, Tôn giả liền hiện thần biến, hóa lửa tự thiêu rồi nhập Niết-bàn: Tôn giả liền hiện mười tám thứ thần biến mà nhập Niết-bàn; lại hóa ra lửa tam-muội, tự thiêu thân mình. Bốn chúng dùng y bọc xá-lợi và xây tháp cúng dường khắp nơi: Bốn chúng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni dùng vạt áo đựng xá-lợi của Tôn giả và xây tháp cúng dường khắp nơi.

 

Bài tán:

Hông không dính chiếu, hành đạo tiến tu: Hông Ngài không dính chiếu, đó là sự tu hành rất khẩn thiết, không còn gì khẩn thiết hơn thế!

Khắp tòa điềm sáng, vách sắt phá tung: Ánh sáng lành xuất hiện khắp tòa, như phá tung các tường sắt.

Sáu cách đất rung, mày ngang mũi thẳng: Đất ở đây đều chấn động. Có tất cả sáu cách chấn động. Lông mày của Ngài thì nằm ngang, mũi thì thẳng. Quý vị xem! Ngài thì như vậy đó! Mày ngang, mũi dọc, còn quý vị thì lông mày ngang hay dọc? Mũi thì ngang hay dọc?[1] Về vụ này tôi xin để quý vị tự xét lấy mình!

Làm gương trời người, mãi từ nghìn xưa: Nghìn xưa đến nay, Ngài đều làm mẫu mực cho người và trời.

 

Kệ rằng:

Lưng không dính chiếu nhẫn khó hành: Tại sao lưng Ngài không dính chiếu? Vì sức tinh tiến tu hành của Ngài rất kiên cố.

Mẫu mực làm nền dạy hậu sanh: Ngài dùng thân mình làm phép tắc, là một tấm gương sáng cho mọi người.

Tùng bách chịu rét người ngưỡng mộ: Bất luận lạnh như thế nào thì cây tùng và cây bách đều không ngại, nên con người rất ngưỡng mộ sự cứng rắn của chúng, và cảm thấy tùng bách, rất cao thượng.

Nhật nguyệt tỏa sáng dáng thêm xinh: Ánh sáng mặt trời, mặt trăng chiếu khắp nơi, mọi người thấy đều ưa thích.

Khí tiết thanh nhã không người sánh: Ngài tu hành như vậy, đạo phong thanh cao, tiết tháo hoàn mĩ như vậy thì không có người nào sánh kịp.

Chí cao nguyện lớn hiếm kẻ bằng: Chí khí cao, nguyện lực lớn như vậy, thì có ai có thể trọn vẹn, không thiếu sót được?

Xưa nay khắp chốn đều nương đức: Xưa nay, người trong nước và ngoài nước đều thấm nhuần sự giáo hóa và ân đức của Ngài.

Tướng tốt mây lành chúng kính tin: Đạo phong của Ngài giống như ánh sáng và khí mây tốt lành, khiến mọi người đều chiêm ngưỡng.

 (Tuyên Công Thượng Nhân giảng ngày 10, tháng 3, năm 1978).

 

-------------------------------------

Chú 1:Bài kệ truyền pháp của Tổ thứ chín phó chúc cho Tổ thứ mười, thấy trong “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” và “Chỉ Nguyệt Lục” ghi:

                   Chân lý vốn không tên

                   Nhờ tên rõ chân lý

                   Hiểu được pháp chân thật

                   Không ngụy cũng không chơn.

                       真理本無名 

因名顯真理
    受得真實法 

非真亦非偽



[1] Hám Sơn Đại sư nói: khai ngộ rồi thì sẽ biết lỗ mũi (nostril) của mình trỏ lên hay trỏ xuống.

 


Quý vị xem trang kế để biết về Tổ thứ mười một đến Tổ thứ mười chín trong Thiền tông.