Tổ thứ mười một:      TÔN GIẢ PHÚ-NA-DẠ-XA

 

Tôn giả người nước Hoa Thị. Nhân lúc Tổ thứ mười (Hiếp Tôn giả) du hóa đến nước này, đang nghỉ dưới bóng cây, Ngài đến chắp tay đứng trước Tổ. Tổ hỏi:

- Ông từ đâu đến?

Tôn giả thưa:

- Dạ! Tâm con chẳng phải đến.

- Ông trụ ở đâu?

- Tâm con chẳng dừng.

- Ông chẳng định sao?

- Chư Phật cũng vậy.

- Ông chẳng phải Chư Phật.

- Chư Phật cũng chẳng có.

Nhân đó Tổ nói kệ:

Đất này đổi màu vàng

Dự biết có Thánh sang

Cội bồ-đề an tọa

Hoa giác nở hoàn toàn.

此地變金色,

預知有聖至;

當坐菩提樹,

覺華而成已.

Tổ biết ý Tôn giả liền cho Ngài xuống tóc, thọ giới cụ túc và truyền trao đại pháp. Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến nước Ba-la-nại và truyền chánh pháp cho Bồ-tát Mã Minh. Ngay sau đó, Tôn giả hiện thần biến, rồi thản nhiên thị tịch. Đồ chúng xây tháp báu tôn trí nhục thân Ngài.

Bài tán:

Chư Phật vốn không

Thánh phàm nào có

Dưới cây trải tòa

Đất hiện vàng chói

Luận tỏ nghĩa chân

Trời người không lường

Hoa giác vừa nở

Trời tuệ treo cao.

諸佛亦非 

聖凡何立 

敷坐樹下 

地現金色
談真實義 

人天罔測 

覺花一開 

高懸慧日

 

Kệ rằng:

Diệu giác xưa nay chẳng động dao

Xa lìa các tướng vạn Phật trao

Sắc vàng hiện đất điềm lành ứng

Hoa báu tuôn rơi cảm tướng mầu

Thánh nhân giáng thế vì muôn loại

Long thần hộ vệ ứng duyên mau

Chư Phật vốn không làm sao có

Như vậy như vậy chớ truyền rao.

(Tuyên Công Thượng Nhân)

    或說偈曰 宣公上人作

本無來往妙覺山 

離諸止相萬佛傳
地現金色吉祥兆 

天雨寶華瑞應先
聖人降世化群品 

神龍擁衛預感召

諸佛已非何所有 

如是如是莫聲高

 

GING:

Tôn giả người nước Hoa Thị: Tên của Tôn giả này là Phú-na-dạ-xa. Ấn Độ có một nước tên Hoa Thị, Ngài là người nước đó.

Nhân lúc Tổ thứ mười  du hóa đến nước này: Tổ thứ mười chính là Hiếp tôn giả, tức là vị tôn giả hông không dính chiếu. Ngài đến nước này, gọi là nước Hoa Thị. Tôi chưa từng đến nước Hoa Thị, chẳng hiểu quý vị đã đến chỗ này chưa? Nói chung đây là một địa danh cổ xưa tại Ấn độ, biết hay không chẳng thành vấn đề. Ta chỉ cần nhớ Ngài không phải người Trung Hoa là đủ rồi, đúng không? Ngài là người Ấn Độ. Nếu bây giờ quý vị cứ nhất định bảo nước đó là nước Hoa Thị thì thử hỏi ngày nay nơi đó có địa danh là gì? Vậy có phải là thêm phiền phức không? Mất công khảo cứu theo lối đó chỉ là vô ích! Khảo cổ, khảo kim, khảo tới, khảo lui, khảo tới chết! Đúng vậy không? Khảo chết, kiếp sau lại khảo, càng khảo càng mù mịt!

Đang nghỉ dưới bóng cây: Ngài đang nghỉ dưới bóng cây. Vì hông Ngài không dính chiếu, nên cũng không cần vào trong nhà mà chỉ ở bên ngoài. Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một bữa, đêm nghỉ bên gốc cây, giống như chúng ta bây giờ. Lúc ấy, Ngài dùng tay phải chỉ xuống đất bảo đồ chúng: “Đất này hóa thành màu vàng sẽ có thánh nhân xuất hiện”. Ngài vừa nói xong, mặt đất lập tức biến thành màu vàng.   

Tôn giả đến chắp tay đứng trước Tổ: Tôn giả này chính là Tổ thứ mười một- Phú-na-dạ-xa, lúc ấy cũng vừa đi đến chỗ gốc cây. Khi thấy Hiếp tôn giả đương tĩnh tọa, Ngài bèn bước tới, đối diện với Hiếp tôn giả rồi đứng chấp tay, bất động, y như một khúc gỗ. Ồ! Đây chẳng phải là ý nói xấu vị Tổ sư đâu, có điều dáng điệu của Ngài lúc đó là như vậy!

(Phần sau này bản cảo thất lạc, nên các đệ tử bổ sung phần giảng bạch thoại).

          Tổ hỏi: Ông từ đâu đến? Tổ thứ mười hỏi Ngài: “Ông từ nơi nào đến?”

Tôn giả thưa: Dạ! Tâm con chẳng phải đến. Ngài thưa: “Dạ! Tâm con không từ chỗ nào đến?”

Tổ hỏi: Ông trụ ở đâu? Tổ thứ mười lại hỏi Ngài: “Ông trú ở nơi nào?”

Tôn giả thưa: Tâm con chẳng dừng. Ngài liền thưa: “Tâm con không có trụ ở chỗ nào. Chữ “dừng” - dịch nghĩa của chữ chỉ “”- chính là chữ trụ “” của kinh Kim Cang trong câu: “Ưng vô sở trụ nhi sinh k tâm”. Trụ cũng chính là chấp trước “執著”. Hai vị này đã dùng cơ phong[1] đối đáp qua lại với nhau.

 Tổ hỏi: Ông chẳng định sao? Tổ thứ mười nói: “Ông không có một nơi cố định sao?”

          Tôn giả thưa: Chư Phật cũng vậy. Ngài thưa: “Chư Phật cũng vậy!

Tổ nói: Ông chẳng phải chư Phật. Tổ thứ mười nói: “Ông không phải là chư Phật!” Ý nói Ngài chưa thành Phật! 

Tôn giả thưa: Chư Phật cũng chẳng có. Ngài lại thưa: “ Chư Phật đều không có!” Quý vị thấy đó!

Nhân đó Tổ nói kệ: Nghe vậy, Tổ thứ mười biết Ngài là bậc pháp khí, liền nói kệ: Đất này đổi màu vàng, dự biết có Thánh sang: Đất ở đây biến thành màu vàng, ta biết có thánh nhân xuất hiện. Cội bồ-đề an tọa, hoa giác nở hoàn toàn. Này hiền giả! Chỗ của ông phải là cội bồ-đề, ông sẽ giác ngộ thành đạo!

Phú-na-dạ-xa liền đáp kệ:

Thầy trụ đất vàng ròng

Thường nói nghĩa chân thật       

Ánh sáng chiếu thân con

Nhập vào tam-ma-đế[2]

                       師坐金色地,

常說真實義
   
迴光而照我,

令入三摩諦

Thầy trụ đất vàng ròng, thường nói nghĩa chân thật”, Sư phụ, Ngài trụ trên đất vàng ròng, những lời Ngài nói ra đều chân thật, lời nói đi đôi với việc làm. “Quán chiếu lại thân con, nhập vào tam-ma-để”, xin Ngài dạy con phương pháp hồi quang phản chiếu, khiến con đạt đến chính định chính thụ[3].

Tổ biết ý Tôn giả liền cho Ngài xuống tóc, trao giới cụ túc: Tổ thứ mười biết được tâm ý của Tôn giả muốn xuất gia học đạo, liền cho Ngài xuống tóc, truyền giới cụ túc. Nhân đó truyền đại pháp cho Ngài: Tổ truyền đại pháp cho Ngài. Đại pháp là diệu pháp dùng tâm ấn tâm, không lập văn tự. Đại pháp chính là “cái đó”! Quý vị mà hiểu được “cái đó” tức là biết tu đạo! Đồng thời Tổ đọc cho Ngài bài kệ như sau:

Thể chân tự nhiên chân

Nhờ chân  nói có lý

Lãnh hội được pháp chân

Không đi cũng không dừng

真體自然真 

因真說有理
領得真真法 

無行亦無止

Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến nước Ba-la-nại và truyền chánh pháp cho Bồ-tát Mã Minh: Tôn giả chính là Tổ thứ mười một. Sau khi thọ pháp và được ấn chứng, Ngài đến nước Ba-la-nại hoằng pháp, rồi truyền pháp cho Bồ-tát Mã Minh. Ngay sau đó, Tôn giả hiện thần biến rồi thản nhiên thị tịch: Ngài liền hiện mười tám thứ thần biến của bậc A-la-hán, rồi thản nhiên thị tịch. Ngài là người rất trong sáng, không một chút nhiễm ô, sạch như gương, trong như nước, có thể nhìn thấu tận đáy. Đồ chúng xây tháp báu tôn trí nhục thân Ngài: Mọi người xấy tháp, an táng toàn thân Ngài và thành kính cúng dường.

Bài tán

Chư Phật vốn không, Thánh phàm nào có: Chư Phật đều không, vậy còn có gì? Vô số hằng hà sa pháp giới nhiều như thế, chỉ như bọt nước trong biển lớn; âm và dương cũng chỉ như tia chớp; không có thánh, không có phàm, cũng không có con người, tất cả đều không có.

Dưới cây trải tòa, đất hiện vàng chói: Hiếp tôn giả ngồi dưới cây, tay Ngài chỉ xuống đất, lúc ấy mặt đất biến thành màu vàng, như “Ba lần mặt đất biến đổi” đã nói trong kinh Pháp Hoa, lúc Đức Phật thị hiện, mặt đất ba lần biến đổi, khắp nơi đều biến thành màu vàng.

Luận tỏ nghĩa chân, trời người không lường: Những lời Ngài bàn luận đều chân thật, người và chư thiên đều nghe nhưng không hiểu được.

Hoa giác vừa nở, trời tuệ treo cao: Tổ thứ mười một ngộ đạo, trí tuệ của Ngài như mặt trời mới mọc giữa không trung.

(Chúng đệ tử  bổ sung phần giảng bạch thoại đến chỗ này).

                                                Thơ rằng:

Núi giác xưa nay chẳng động dao: Cái gì mà vốn không đến không đi ? Đó là núi diệu giác. Núi đó nó ở đâu? Quý vị thử nói coi!

Xa lìa các tướng vạn Phật trao: Không trụ, không dừng, không có chỗ trụ. Đó là tâm pháp của muôn vạn chư Phật truyền trao. Vì vậy, tâm pháp truyền thừa của Vạn Phật Thánh Thành chính là “không có chỗ trụ!

Đất hiện sắc vàng điềm lành ứng: Điềm lành này báo hiệu có  thánh nhân xuất hiện, vậy chúng ta phải dọn dẹp nơi ấy cho sạch sẽ. Bình thường chúng ta trải thảm đỏ để biểu lộ sự cung kính, như trải thảm đỏ từ sân bay thẳng đến phòng tiếp tân chẳng hạn, một lễ nghi mỗi khi nghênh đón quốc vương, đại thần. Nay, đất biến thành màu vàng như thế, tức là biểu lộ sự vui mừng nghênh đón một vị thánh nhân, bởi vậy mới gọi là “điềm lành”.

Hoa báu tuôn rơi cảm tướng mầu: Trên trời cũng mưa hoa  báu  rơi lả tả.

Thánh nhân giáng thế vì muôn loại: Thánh nhân này ra đời giáo hóa hết thảy chúng sinh, vì vậy mới có quang cảnh như vậy.

Long thần hộ vệ ứng duyên mau: Đó là một biểu hiện của thần và rồng đến ủng hộ thánh nhân này. Tiên đoán tình hình này sớm có cảm ứng đạo giao[4].

Chư Phật vốn không làm sao có: Chư Phật đều không, vậy thì có gì?

Như vậy! Như vậy! Chớ truyền rao: “Chính là như vy! Chính là như vy! Như vậy là đúng rồi! Mọi người đều dùng tâm ấn tâm, hiểu nhau không nói thành lời, việc gì cũng không cần nói ra.

(Tuyên Công Thượng Nhân giảng ngày 03, tháng 05, năm 1978)



[1] Cơ phong 機鋒 : chỗ vi diệu sâu kín, sắc sảo của thiền cơ. Tính cách sắc bén của thiền sư khi tiếp hoá người học, hoặc của thiền tăng khi khảo nghiệm lẫn nhau. Đặc điểm của nó là: thường dùng ý sâu sắc mà không để lại dấu vết.

[2] Tam-ma-đế三摩諦(Cg: tam-ma-địa,; Cd: tam-muội): thiền định.

[3] Chính định chính thụ 正定正受: tức chỉ cho (trạng thái) thiền định.

[4] Cảm ứng đạo giao感應道交: mối tương giao và cảm ứng giữa chư Phật với chúng sinh. Quan hệ giữa chư Phật và chúng sinh như tình mẹ con. Đây là do cơ duyên của chúng sinh đã thành thục, khiến được chư Phật hưởng ứng, nên cảm của chúng sinh và ứng của chư Phật xen nhau. Hơn nữa căn tính của chúng sinh nhiều đến trăm nghìn, nên sự ứng hiện khéo léo của chư Phật cũng vô lượng. 

 

 

Tổ thứ mười hai:       ĐẠI SĨ MÃ MINH

 

Đại sĩ người nước Ba-la-nại, khi yết kiến Tổ thứ mười một (Phú-na-dạ-xa), Ngài hỏi:

- Con muốn biết Phật, cái gì là Phật?

          Tổ đáp:

- Ông muốn biết Phật, không biết là đúng.

Ngài thưa:

- Con đã không biết Phật, sao biết là đúng?

Tổ bảo:

- Đã không biết Phật, sao biết chẳng phải Phật?

Ngài  khoát nhiên tỉnh ngộ, Tổ liền cho xuống tóc, rồi bảo:

- Người này, xưa kia là vua nước Tỳ-xá-lợi, đã vận thần lực phân thân làm nhiều tằm, nên người nước ấy có đủ áo mặc. Về sau, khi Ngài sinh vào Trung Ấn Độ, những ai có lối sống như ngựa đều luyến thương, nên Ngài có hiệu là Mã Minh. Trước đây Đức Phật huyền ký: Sau khi Ta diệt độ 600  năm sẽ có bậc Thánh độ vô lượng người, tiếp nối Ta truyền hóa chính đạo.” Nay chính là đúng thời khắc.

Tổ liền phó pháp cho Ngài . Về sau, Ngài gặp Ca-tỳ-ma-la và truyền pháp cho vị này. Truyền pháp xong, Ngài liền nhập tam-muội Long phấn-tấn, rồi vút mình lên không trung như tướng mặt trời, sau đó thị tịch.

                                      Bài tán:

Xưa vận thần lực

Cho áo người trần

Người nào là Phật

Như rau làm dưa

Làm sao biết được

Chánh nhãn khó tầm

Xưa đã thụ  

Mắt ở trên mày.

宿運神力 

與裸者衣 

何者是佛

如菜作齏
恁麼悟去 

正眼難窺 

遠受記莂

栽眼上眉

 

Kệ rằng:

Dũng mãnh siêng năng tu pháp lành

Từ vô lượng kiếp độ quần sanh

Hóa tằm nhả sợi nguyện Bồ-tát

Ngựa hý bi thương Tổ tái sanh

Truyền tâm ấn Phật hoằng chính  pháp

Khơi đèn tuệ sáng diễn tông thành

Tây Thiên, Đông Độ đều chiêm ngưỡng

Mặt nhật không trung hiện rõ rành.

或說偈曰 宣公上人作

勇猛精進修善根 

無量劫來度眾生
化蠶吐絲菩薩願 

若馬悲鳴祖師風
傳佛心印弘大乘 

續聖明燈演圓宗
西天東土齊瞻仰 

虛空法界日當中

 

GING:

Đại sĩ người nước Ba-la-nại: Tổ thứ mười hai- Đại sĩ Mã Minh là người nước Ba-la-nại. Khi yết kiến Tổ thứ mười một (Phú-na-dạ-xa), Ngài hỏi: Con muốn biết Phật, cái gì là Phật? Ngài đến đảnh lễ Tổ thứ mười một, rồi thưa:  “Con muốn biết Phật, cái gì là Phật?

Tổ nói: Ông muốn biết Phật, không biết là đúng. Tổ thứ mười một nói: “Nếu ông muốn biết Phật, thì không biết là đúng”. Nguyên do ở chỗ không biết! Khi nói muốn biết Phật, chứng tỏ là chưa biết gì! Vì vậy, Tổ mới nói là nếu ông muốn biết Phật, thì không biết chính là Phật! 

Sư thưa: Con không biết Phật, sao biết ai là Phật? Bồ- tát Mã Minh thưa: “Con không biết Phật, làm sao biết được ai là Phật?”

Tổ nói: Đã không biết Phật, sao biết chẳng phải Phật? Tổ thứ mười một nói: “Ông không biết Phật, làm sao ông biết ai đó không phải là Phật. Đây là cơ phong chuyển ngữ[1]. Biện luận của hai người này là ông không biết Phật, làm sao ông biết không phải là Phật?

Đại sĩ khoát nhiên tỉnh ngộ, Tổ liền cho xuống tóc, rồi bảo: Đại sĩ chính là Bồ-tát Mã Minh; khoát nhiên chính là hiểu rõ thông suốt; tỉnh ngộ chính là không mê muội mà tỉnh thức. Như vậy, Tổ thứ mười cho Ngài xuống tóc và kể cho nghe về nhân duyên quá khứ của Ngài như sau:

Người này, xưa kia là vua nước Tỳ-xá-lợi, đã vận thần lực phân thân làm nhiều tằm, nên người nước ấy có đủ áo mặc: Trước kia người này là vua nước T-xá-lợi. Trong nước này có ba hạng người:

- Bậc thượng: thân họ có ánh sáng; áo quần, cơm nước tự nhiên xuất hiện theo ý muốn.

- Bậc trung: thân họ không có ánh sáng; áo quần, cơm nước phải tìm cầu mới có.

- Bậc thấp hèn nhất: họ không có áo mặc, trần truồng như ngựa. Vì thế, nhà vua thương xót hạng người này, dùng nguyện lực thần thông biến hóa thân mình thành rất nhiều tằm; tằm nhã tơ rất nhiều, nên mọi người đều cóáo mặc.

Về sau, khi Ngài sinh vào Trung Ấn Độ, những ai có lối sống như ngựa đều luyến thương, nên Ngài có hiệu là Mã Minh. Nhờ công đức này, nên Ngài được sinh vào nước Trung Ấn Độ. Khi Ngài giã biệt nước T-xá-lợi, những ai có lối sống như ngựa vì nhớ đến ơn đức của Ngài nên tất cả đều quyến luyến, kêu lên một cách bi thương. Từ đó mà Ngài có tên hiệu là “Mã Minh” (ngựa kêu) (1). Có lẽ Ngài cũng thường làm tiếng kêu như ngựa khóc, để giáo hóa những chúng sinh như ngựa, nhân đó mà gọi sư là Bồ-tát Mã Minh. Tóm lại: Danh hiệu của Ngài là gì không quan trọng, miễn nói sao hợp lý thì được rồi!  

Trước đây Đức Phật huyền ký: Sau khi Ta diệt độ 600  năm sẽ có bậc Thánh độ vô lượng người, tiếp nối Ta truyền hóa chính đạo. Trước đây Đức Phật đã từng thụ ký:  “Sau khi Ta diệt độ sáu trăm năm, sẽ có bậc Thánh nhân xuất hiện ở đời, độ rất nhiều người. Đó chính là người sẽ truyền trao tâm ấn Phật cho đời sau”.

Nay đã đúng thời, Tổ liền phó pháp cho Sư: Đây là lời của tổ thứ mười một nói: “Thời khắc chính là lúc này!”. Vì vậy, Tổ liền truyền pháp tâm ấn cho Ngài (2).

Về sau, Sư gặp Ca-tỳ-ma-la và truyền pháp cho vị này. Truyền pháp xong, Sư liền nhập tam-muội Long phấn-tấn, rồi vút mình lên không trung như tướng mặt trời, sau đó thị tịch: Về sau Bồ-tát Mã Minh lại truyền pháp cho tôn giả Ca-t-ma-la. Truyền pháp xong, Sư liền nhập định tam-muội Long phấn-tấn, vút mình lên không trung như mặt trời mọc, rồi viên tịch, nhập Niết-bàn.

 

   Bài tán:

Xưa vận thần lực, cho áo người trần: Trước kia, lúc Bồ-tát Mã Minh làm vua, Ngài vận dụng thần lực, cung cấp y phục cho người không có y phục.

          Người nào là Phật, như rau làm dưa: Cái gì là Phật? cũng giống như lấy rau làm dưa.

Làm sao hiểu được, chánh nhãn khó tầm: Thế nào mới có thể khai ngộ? Ông không dễ gì nhìn thấy được.

Xưa đã thụ ký, mắt ở trên mày: Trước đây Đức Phật đã thọ ký, đặt con mắt trên lông mày. Quý vị nói coi! Ở đây nói lên điều gì? 

 

                                      Kệ rằng:

Dũng mãnh siêng năng tu căn lành: Các vị Bồ-tát đều tu căn lành, các vị Tổ cũng như vậy.

Từ vô lượng kiếp độ quần sanh: Vô lượng kiếp Ngài vừa tu tập căn lành, vừa cứu độ chúng sinh.

Hóa tằm nhả sợi nguyện Bồ-tát: Ngài biến hóa thành rất nhiều tằm, tằm nhã tơ, cho con người làm áo quần mặc. Đó là phát nguyện của Bồ-tát.

Ngựa hý bi thương Tổ tái sanh:  Ngài học tiếng ngựa hý để cảm hóa chúng sinh, giúp chúng sinh tỉnh ngộ, đó là phong cách của Bồ-tát Mã Minh.

Truyền tâm ấn Phật hoằng chính  pháp: Ngài truyền trao tâm ấn của Phật và hoằng dương pháp môn Đại thừa.

Khơi đèn tuệ sáng diễn tông thành: Ngài tiếp nối đèn sáng của bậc thánh nhân và giảng giải tông chỉ vi diệu này.

Tây Thiên, Đông Độ đều chiêm ngưỡng: Không luận phương Đông hay phương Tây, mọi người đều ngưỡng vọng Ngài.

Mặt nhật không trung hiện rõ rành: Trong pháp giới hư không, Bồ-tát Mã Minh như mặt trời giữa hư không.

 

Tôi không biết tự lượng sức mình, cuối cùng đã giảng kinh xong, lại giảng truyện về các vị Tổ Sư và cả những bài kệ tụng do tôi làm ra chẳng hay gì! Các vị ai nấy đều rất là vất vả, nhưng tôi và các vị thảy đều như nhau. Chúng ta phải vất vả một chút mới tốt hay làm biếng là tốt? Lười biếng quá thì thật chẳng ra gì đâu! Chúng ta tu hành thì phải từng giờ từng khắc ráng sức siêng năng, bởi vậy câu đầu tiên của ngày hôm nay là “dũng mãnh tinh tấn”. Bất cứ ai trong quý vị mà dũng mãnh tinh tấn được thì người đó có thể xứng đáng với danh hiệu là đệ tử của Đức Phật.

(Tuyên Công Thượng Nhân giảng ngày 10, tháng 5, năm 1978)

 

--------------------------------------------

Chú 1: Còn một thuyết khác nói về lai lịch danh hiệu của Bồ-tát Mã Minh căn cứ theo sách “Mã Minh Bồ Tát Truyện” do Pháp sư Cưu-ma-la-thập dịch. Nay xin lược thuật như sau:

Bồ-tát Mã Minh nguyên trước đây ở Trung Thiên Trúc, xuất gia làm sa-môn ngoại đạo. Ngài thông minh, biện tài, tinh thông luận nghĩa… Khi trưởng lão Hiếp tôn giả gặp Ngài ở Bắc Thiên Trúc, biết Ngài  có thể hóa độ nên Tổ hóa độ Ngài làm đệ tử.

Từ đó, Ngài hoằng dương Phật pháp ở Trung Thiên Trúc, bốn chúng đều kính trọng bội phục. Sau này, nước Nguyệt Thị ở Bắc Thiên Trúc tấn công và bao vây Trung Thiên Trúc. Vua nước Trung Thiên Trúc phái sứ giả cầu hòa nhưng đối phương yêu cầu phải dâng cho họ ba ức vàng ròng mới chịu bãi binh và ngưng chiến. Vua nói: “Trong nước tôi ngay cả một ức vàng ròng cũng không có, lấy đâu ra ba ức?” Đối phương trả lời: “Nước các ông  có hai bảo bối lớn, thứ nhất là bình bát của Đức Phật và thứ hai là vị tỳ-kheo giỏi biện tài (ám chỉ Bồ-tát Mã Minh). Nếu các ông  dâng cho chúng tôi hai thứ đó thì đã bằng hai ức vàng ròng rồi”.  Nhà vua nghĩ không thể nào nhường lại cho họ hai thứ bảo bối này, nhưng sau khi nghe t-kheo Mã Minh nói rõ đại nghĩa, nhà vua mới chấp thuận.

Lúc vua  Nguyệt Thị về đến nước mình, các đại thần đều tâu rằng: “Đại vương thỉnh bình bát của Đức Phật về đây cố nhiên là một điều thích đáng. Còn như tỳ-kheo thì khắp thiên hạ đều có, nay vị này lại đánh giá bằng cả một ức vàng ròng, thì chẳng phải là một sự quá đáng hay sao?”

Quả thật Vua nước Nguyệt Thị biết vị t-kheo tài trí này thông suốt không ai bằng, biện tài thuyết pháp của Ngài cảm động đến các loài chúng sinh khác. Bởi vậy vua thỉnh tỳ-kheo thuyết pháp, ai nấy nghe thảy đều được khai ngộ. Trong lúc ấy, nhà vua cho người cột bảy con ngựa đói ngay trước hội trường, sai mang cỏ đến cho chúng ăn, vậy mà tất cả mấy con đó đều nhỏ nước mắt, chẳng một con nào thèm ăn cỏ. Từ đó mọi người mới hay vị này chẳng phải là một tỳ-kheo bình thường, vì ngay cả ngựa cũng hiểu được âm thanh thuyết pháp của Ngài, nên gọi Ngài là Bồ-tát Mã Minh.

Chú 2: Kệ truyền pháp của Tổ thứ mười một phó chúc cho Tổ thứ mười hai thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi:

Mê ngộ như ẩn hiện

Sáng tối không lìa nhau

Nay phó pháp ẩn hiện

Không phải một chẳng hai.

迷悟如隱顯 

明闇不相離
    今付隱顯法 

非一亦非二



[1] Chuyển ngữ 轉語: lời lẽ sắc bén tùy cơ nghi mà chuyển biến một cách tự do tự tại. Lúc thiền giả mê lầm không hiểu, tiến thoái lưỡng nan, vị thầy tức thì xoay chuyển cơ phong hạ ngay chuyển ngữ để giúp hành giả khai ngộ. 

 

 

Tổ thứ mười ba:     TÔN GIẢ CA-TỲ-MA-LA

 

Tôn giả người nước Hoa Thị, ban đầu Ngài là ngoại đạo, biết nhiều về các luận thuyết khác, có thần thông lớn. Vừa gặp Tổ thứ mười hai, Tôn giả đảnh lễ xin sám hối. Tổ hỏi:

- Ông tên gì? Trong họ hàng có bao nhiêu người?

Tôn giả thưa:

- Dạ! Con tên Ca-tỳ-ma-la, có ba nghìn quyến thuộc.

Tổ hỏi:

- Dốc hết thần lực của mình, ông biến hóa được đến đâu?

- Dạ! Con hóa biển cả là việc rất dễ.

- Ông hóa biển tánh được không?

- Dạ! Biển tánh là gì, con chưa biết.

Tổ bảo:

- Núi sông đại địa đều y cứ biển tánh mà thành lập, tam-muội lục thông cũng do biển tánh mà biến hiện.

Tổ nói xong, Tôn giả cùng đồ chúng cầu xin xuất gia. Tổ triệu tập năm trăm vị A-la-hán đến trao giới cụ túc và truyền đại pháp cho Tôn giả. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến Tây Ấn Độ và truyền pháp cho ngài Long Thọ, rồi hiện thần biến hóa lửa tự thiêu thân mình.

 

Bài tán:

Giảng nói muôn cách

Gõ phách làm lệnh

Dùng tâm ấn tâm

Như kính chiếu kính

Tận lẽ nhiệm mầu

Vượt lên phàm thánh

Chánh nhãn xem qua

Bình bát thêm cán.

唱出多端 

拍拍是令 

以心印心 

似鏡照鏡
竭盡玄微 

頓超凡聖 

正眼看來 

缽盂安柄

           

Kệ rằng:

Ngoại đạo quy y nối tuệ minh

Thần thông biến hóa hiển uy linh

Lỗi xưa sám hối cầu tăng tiến

Rộng bày trọn nghĩa lý thông tình

Trăm nghìn biển tánh tam-muội hiện

Tám vạn pháp môn núi nên hình

Cày bừa bội thu cần nỗ lực

Tu hành hai chữ phải chuyên tinh.

(Tuyên Công Thưng Nhân)

或說偈曰 宣公上人作

外道歸佛續慧燈 

神通變化顯威靈
深知懺悔求更進 

大開圓解自融通
百千三昧性海現 

八萬法門願山成
耘耕收穫勤努力 

修行修行又修行

 

GING:

Tôn giả người nước Hoa Thị: Tôn giả Ca-tỳ-ma-la chính là Tổ thứ mười ba. Ngài sinh tại nước Hoa Thị, là người nước Hoa Thị.Ban đầu Ngài là ngoại đạo, biết nhiều về các luận thuyết khác, có thần thông lớn: Ban đầu Tôn giả theo ngoại đạo, thông thạo các môn như “k môn độn giáp[1]”, rồi các loại thiên thư, địa thư, nhân thư, cái gì cũng biết, lại có thần thông lớn nữa. Vừa gặp Tổ thứ mười hai, Tôn giả đỉnh lễ xin sám hối: Ngài rất ngang bướng, vận dụng hết sức thần thông của mình gây một vài việc phá phách. Vì vậy, lúc vừa gặp Tổ thứ mười hai- Bồ-tát Mã Minh, Ngài liền đỉnh lễ Tổ cầu xin sám hối (1).  

Tổ hỏi: Ông tên gì? Quyến thuộc được bao nhiêu? Tổ thứ mười hai hỏi Ngài: “Ông tên gì? Ông có bao nhiêu đệ tử?”, quyến thuộc đây ám chỉ đệ tử.

Tôn giả thưa: Dạ! Con tên Ca-tỳ-ma-la, có ba nghìn quyến thuộc: Tôn giả thưa: “Dạ! Con tên là Ca-tỳ-ma-la, có ba nghìn đồ đệ.

Tổ hỏi: Dốc hết thần lực của mình, ông biến hóa được đến đâu? Tổ thứ mười hai hỏi:  “Vận hết thần lực của ông, ông có thể biến hóa thế nào?”

Tôn giả thưa: Dạ! Con hóa biển cả là việc rất dễ : Tôn giả thưa: Dạ! Con hóa biển lớn, việc này đối với con mà nói, đó là việc rất nhỏ.”   

Tổ hỏi: Ông hóa biển tánh được không? Tổ thứ mười hai nói: “Ông có thể hóa biển tánh được không?”

Tôn giả thưa: Dạ! biển tánh là gì, Con chưa biết. Ngài thưa:  “Dạ! biển tánh là gì? Con không biết, làm sao có thể hóa được?”

Tổ nói: Núi sông đại địa đều y cứ biển tánh mà thành lập, tam-muội, lục thông cũng do biển tánh mà biến hiện. Tổ thứ mười hai nói: “Núi sông đại địa đều  hình thành từ biển tánh này, tam-muội lục thông cũng do biển tánh này biến hiện”.

Tổ nói xong, Tôn giả cùng đồ chúng cầu xin xuất gia. Nghe xong, tôn giả và đồ chúng của Ngài đều cầu xin xuất gia. Tổ triệu tập năm trăm vị A-la-hán đến truyền giới cụ túc và truyền đại pháp cho Tôn giả: Tổ thứ mười hai mời năm trăm vị la-hán truyền giới cụ túc và pháp môn tâm ấn cho Ngài(2).Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến Tây Ấn Độ và truyền pháp cho ngài Long Thọ: Sau khi đắc pháp, Tôn giả đến nước Tây Ấn Độ, truyền pháp tâm ấn cho Bồ-tát Long Thọ. Rồi hiện thần biến hóa ra lửa tự thiêu thân: Tự mình phát ra lửa thật tam-muội để thiêu thân.

 

Bài tán:

Giảng nói muôn cách, gõ phách làm lệnh: Giảng dạy nhiều cách, gõ phách “拍拍đều là phương tiện giáo hóa chúng sinh.

Dùng tâm ấn tâm, như kính chiếu kính: Dùng tâm để ấn tâm, như dùng kính chiếu vào kính.

Tận lẽ nhiệm mầu, vượt lên phàm thánh: Giảng nói những lời huyền diệu, siêu việt hàng phàm thánh.

Chánh nhãn xem qua, bình bát thêm cán: Dùng mắt chính pháp để xem, như trên bát lại tra thêm cán.

 

Thơ rằng:

Ngoại đạo quy y nối tuệ minh: Trước kia Ngài là ngoại đạo, nhưng quy y Phật và nối tiếp đèn huệ mạng của Phật.

Thần thông biến hóa hiển uy linh: Ngài có thần thông, biến hóa, hiện ra những việc như thật.

Lỗi xưa sám hối cầu tăng tiến: Nhưng Ngài biết rõ lỗi lầm trước đây của mình, nên muốn sám hối, mong được đi lên, thêm một bậc nữa.

Rộng bày trọn nghĩa lý thông tình: Ngài có tâm cầu tiến như thế, nên Tổ thứ mười hai liền giảng pháp cho Ngài. Nghe xong,Ngài hoàn toàn khai ngộ, Ngài thông suốt và hiểu rõ hoàn toàn.

Trăm nghìn biển tánh tam-muội hiện: Trăm nghìn tam-muội nhiều như thế đều phát xuất từ biển tánh của tự tánh.

Tám vạn pháp môn núi nên hình: Ông phát nguyện tu tám vạn pháp môn, dũng mãnh tinh tấn, vì vậy giống như một quả núi, gom từng chút đất sẽ  hình thành.

Cày bừa bội thu cần nỗ lực: Quý vị tu hành cũng giống như người làm ruộng, nghĩa là phải cày bừa, nhổ cỏ thì đến thời mới có thu hoạch, mới có lương thực. Quý vị phải cần cù nỗ lực mới được, vậy nghĩa là sao? Tức là . . .

Tu hành hai chữ phải chuyên tinh: Không nên lười biếng! tu hành, tu hành, lại tu hành, không có lúc dừng nghỉ

(Tuyên Công Thương Nhân giảng ngày 16, tháng 2, năm 1979)

 

----------------------------------------

Chú 1: Tôn giả Ca-tỳ-ma-la vì saosám hối với Tổ thứ mười hai? Thấy trong  “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” ghi:

Tổ thứ mười hai là Bồ-tát Mã Minh, người nước Ba-la-nại, Ngài còn có tên là Công Thắng. Vì các công đức hữu tác vô tác của Ngài rất thù thắng, nên có tên gọi như thế. Ngài thọ pháp với tôn giả Dạ-xa, sau đó giáo hóa ở nước Hoa Thị. Một hôm, có một ông già ngồi phía trước bỗng nhiên ngã lăn xuống đất, Ngài dạy chúng: “Đây chẳng phải là chuyện bình thường, nhất định sẽ có chuyện lạ”. Ngài vừa nói xong thì ông già biến mất. Chợt thấy dưới đất vọt lên một người, thân mầu vàng, kế đó biến hóa ngay thành một cô gái, tay phải chỉ Ngài rồi nói bài kệ như sau:

Kính lễ bậc trưởng lão

Sau được Phật thọ ký

Nay ở tại nơi này

Tuyên dương Đệ nhất nghĩa[2]  

                             稽首長老尊 

當受如來記
    今於此地上 

宣通第一義

Nói kệ xong, trong chớp mắt cô gái biến mất. Ngài nói: “Sẽ có ma đến đấu sức với ta”. Bỗng chốc, mưa gió ùn ùn kéo đến, trời đất tối sầm lại, Ngài nói: “Đúng thật ma đến rồi! Ta sẽ diệt trừ nó”. Ngài liền chỉ lên không trung, hóa hiện một con rồng vàng lớn, thị hiện uy thần, làm núi non bị chấn động. Ngài vẫn ngồi yên trên tòa, còn pháp của ma thì tự biến mất.

Bảy ngày sau, có một con trùng lớn như con sâu, ẩn mình dưới tòa, Ngài liến bắt nó, đưa lên cho đại chúng thấy và nói:  “Đây là ma trá hình để nghe trộm pháp của ta”. Rồi Ngài thả nó ra và bảo đi.  Ma không dám nhúc nhích. Ngài bảo: “Ngươi chỉ cần quy y Tam Bảo, sẽ được thần thông”. Lúc ấy, ma liền hiện nguyên hình, đỉnh lễ sám hối.

 

Chú 2: Bài kệ truyền pháp của Tổ thứ mười hai phó chúc cho Tổ thứ mười ba, thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi:

Ẩn hiện tức bản pháp

Sáng tối vốn không hai

Nay trao pháp giải thoát

Không lấy cũng không bỏ

隱顯即本法 

明暗元不二
  今付悟了法 

非取亦非離



[1] Kỳ môn độn giáp奇門遁甲: một loại thuật số, là môn dự đoán, phát sinh từ Dịch học, ứng dụng dịch lý, để cho ta biết được thời điểm nào, phương vị nào sẽ có lợi cho ta và phương vị nào sẽ bất lợi cho ta, rồi ta có thể dựa vào đó cải thiện vận mệnh của ta cho từng thời điểm.

[2]Đệ nhất nghĩa第一義: gọi tắt của Đệ nhất nghĩa đế. Phạm: Paramartha-satya. Chân lý sâu xa mầu nhiệm vượt trên tất cả pháp.

Cũng gọi Thắng nghĩa đế, Chân đế, Thánh đế, Niết bàn, Chân như, Thực tướng, Trung đạo, Pháp giới. Đối lại với “thế tục đế”. (Phật Quang Đại Tự Điển) 




Tổ thứ mười bốn:      BỒ-TÁT LONG THỌ

 

Bồ- tát Long Thọ người Tây Thiên Trúc, nhân khi Tổ thứ mười ba (Ca-tỳ-ma-la) đến đây hoằng hóa, Ngài đến nghinh tiếp và thưa:

- Nơi núi sâu vắng vẻ, là chỗ hang động của rồng rắn, đại đức là bậc chí tôn, vậy chẳng là uổng công thần túc của Ngài sao? Tổ bảo:

- Ta chẳng phải chí tôn, ta đến là để thăm hỏi hiền giả.

Ngài Long Thọ nghĩ thầm (trong lòng). Tổ biết Ngài nghĩ gì. Ngài xin sám hối tạ tội. Tổ liền cho Ngài cùng năm trăm đồ chúng xuất gia, truyền giới cụ túc và truyền đại pháp cho Ngài. Sau khi đắc pháp Ngài liền du hóa đến Nam Ấn Độ. Dân chúng ở đây phần nhiều đều tin phước nghiệp, nên Ngài dạy về nghĩa Phật tánh, nghe xong họ đều tin theo. Thế rồi, Ngài  trở lại ngay tòa hiện thân như trăng tròn. Bấy giờ, trong chúng có Ca-na-đề-bà nói: ‘Ngài hiện thể tướng của Phật tánh để chỉ dạy chúng ta’.

Về sau, Ngài phó pháp cho tôn giả Ca-na-đề-bà rồi nhập tam-muội Nguyệt luân, hiện nhiều thứ thần biến rồi an nhiên thị tịch.

 

Bài tán:

Nghĩa của Phật tánh

Chẳng tướng có, không

Hiện trăng tam-muội

Trăng đẹp lên cao

Để ngăn đồ chúng

Không lạc lối đi

Đôi mày vừa nhướng

Một nhát trúng hai

佛性之義 

非有無相 

現三昧輪 

珊瑚月上
是克家兒 

不落趣向 

揭卻雙眉 

一鎚兩當

 

Kệ rằng:

Tổ thứ mười bốn được truyền tâm

Long cung tìm báu được kinh thâm

Pháp giới là thể không ngằn mé

Hư không là dụng có chi tâm

Bao la vạn tượng nhiều vi diệu

Gồm thâu yếu chỉ thoát mê lầm

Nhà lửa hiểm nguy đừng lưu luyến

Phật tọa Bồ đề thấy sao mầu

或說偈曰 宣公上人作

天竺十四祖傳心 

龍宮尋寶取大經
法界為體無邊際 

虛空是用有何痕
包羅萬物含眾妙 

捲藏一密迥根塵
火宅危險休留戀 

世尊樹下見明星

 

GING:

Tôn giả người nước Tây Thiên Trúc: Vị Tôn giả này là Bồ-tát Long thọ(1), tức Tổ thứ mười bốn của Ấn Độ, người miền Tây Ấn.

Nhân lúc Tổ thứ mười ba hoằng hóa đến đây: Tổ thứ mười ba giáo hóa chúng sinh, đến nước Tây Thiên Trúc. Bồ-tát Long Thọ ra nghênh tiếp và thưa:Nơi núi sâu vắng vẻ, là chỗ hang động của rồng rắn, đại đức là bậc chí tôn, vậy chẳng là uổng công thần túc của Ngài sao?: Tôn giả Long Thọ tu hành ở nơi này, nên ra nghênh tiếp Tổ và thưa: “Chỗ này non cao, núi thẳm, vô cùng vắng vẻ và trơ trọi, là hang ổ của loài rồng và mãng xà. Thưa Đại đức! Ngài là bậc cao thượng và tôn quý rất mực, vậy chẳng hay Ngài có đi lạc lối chăng ? Mà sao lại hoài công cất bước đến chỗ này?”. Chữ thần túc “神足” ở đây không có nghĩa là thần túc thông.

Tổ bảo: Ta chẳng phải chí tôn, ta đến là để thăm hỏi hiền giả: Tổ thứ mười ba nói: “Ta không phải là bậc tôn quý, ta đến đây để thăm hỏi người hiền đức.”Ngài Long Thọ nghĩ thầm:  Nghĩ thầm tức là nói chuyện thầm trong lòng. Ngài Long thọ nói thầm, đại khái như nói: “Ngài nói dối nhé! Ngài vốn là một vị tổ sư, mà Ngài nói không phải là bậc chí tôn”. Tổ biết Ngài nghĩ gì: Tổ thứ mười ba biết trong lòng Ngài nghĩ gì.   

Ngài xin sám hối tạ tội: Bởi thấy Tổ biết hết những gì mình nghĩ trong lòng nên Bồ-tát Long Thọ xin Tổ cho Ngài được sám hối tạ tội, tự nhận sự lỗi lầm! Như chúng ta thường nói bằng tiếng Anh câu “I am sorry! I am very stupid!”(Con xin lỗi! Con thực ngu xuẩn!)

Tổ liền cho Ngài cùng năm trăm đồ chúng xuất gia, truyền giới cụ túc và truyền đại pháp cho Ngài. Tổ thứ mười ba cho Ngài và năm trăm năm trăm người tu theo Ngài xuất gia, thọ giới cụ túc và truyền pháp tâm ấn cho Ngài(2). Sau khi đắc pháp Ngài liền du hóa đến Nam Ấn Độ. Sau khi đắc pháp, Bồ-tát Long Thọ du hóa đến Nam Ấn Độ. Dân chúng ở đây phần nhiều đều tin phước nghiệp: Con người nơi này, phần nhiều tu phước báo của trời người, không biết cầu học Phật pháp. Họ chỉ biết gieo phước, cầu phước. Ngài dạy nghĩa Phật tánh. Tổ thứ mười bốn dạy họ về Phật tánh, tự tánh, đầy đủ vô lượng công đức và tất cả phước báu. Nghe xong mọi người đều tin theo. Sau khi nghe xong, mọi người đều bỏ Tiểu thừa tu theo Đại thừa và hoàn toàn thay đổi tâm cầu phước trước kia của họ.Thế rồi, Ngài lại ngay tòa hiện thân như trăng tròn: Ở trên tòa Bồ-tát Long Thọ hiện thân như mặt trăng tròn, thân Ngài sáng như ánh sáng của mặt trăng.

Bấy giờ, trong chúng có Ca-na-đề-bà nói: ‘Ngài hiện thể tướng của Phật tánh để chỉ dạy chúng ta’: Trong đại chúng có Ca-na-đề-bà chính là Tổ thứ mười lăm, Ngài nói: “Đây là Tôn giả thị hiện thể và tướng của Phật tánh xưa nay, để giáo hóa chúng ta”.

Về sau, Ngài phó pháp cho Ca-na-đề-bà rồi nhập tam-muội Nguyệt luân, hiện nhiều thứ thần biến rồi an nhiên thị tịch: Về sau Bồ-tát Long Thọ truyền pháp cho Tổ thứ mười lăm- Ca-na-đề-bà, rồi nhập định Nguyệt luân, thị hiện thần thông, sau đó an nhiên thị tịch.

 

      Bài tán:

Nghĩa của Phật tánh, chẳng tướng có, không: Phật tánh chẳng phải có, chẳng phải không.

Hiện trăng tam-muội, trăng đẹp lên cao: Hiện tam-muội như ánh sáng một mặt trăng bằng san hô.

Để ngăn đồ chúng, không lạc lối đi: Đúng là một bậc trượng phu con nhà Phật, chẳng theo lối nào khác, cũng chẳng lạc vào thứ bậc nào.

Đôi mày vừa nhướng, một nhát trúng hai: Đôi mày ấy đều  không. Đánh một tiếng kiền chùy có hai âm thanh phát ra, vậy đánh thế nào?

 

Kệ rằng:

Tổ thứ mười bốn được truyền tâm: Tổ thứ mười bốn là Bồ-tát Long Thọ, người Thiên Trúc được truyền tâm ấn.

Long cung tìm báu được kinh thâm: Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm của chúng ta chính là do Bồ-tát Long Thọ đến long cung trong biển lớn lấy đem về (3).

Pháp giới là thể không ngằn mé:  Bộ kinh lớn này lấy Pháp giới làm thể, không có giới hạn.

Hư không là dụng có chi tâm: Hư không là dụng thì có dấu vết gì? Dấu vết gì cũng không có!

Bao la vạn tượng nhiều vi diệu: Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm này bao la vạn vật, chứa đựng tất cả và có hết thảy diệu dụng.

          Gồm thâu yếu chỉ thoát mê lầm:  Thâu hết những điều bí mật, cũng không có sáu căn, sáu trần, mà xa lìa tất cả!

Nhà lửa hiểm nguy đừng lưu luyến: Nhà lửa tam giới là Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới rất nguy hiểm, một khi mất thân người thì vạn kiếp khó được lại.

Phật tọa Bồ đề thấy sao mầu: Lúc xưa, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi bên cội cây bồ-đề, quyết không đứng dậy, đêm thấy sao sáng mà ngộ đạo. Chúng ta nên biết, Đức Phật Thích-ca Mâu- ni tu hành khổ hạnh thế nào mới thành Phật. Vì vậy, chúng ta tu hành cần phải có chút tinh thần khổ hạnh, phải xả bỏ hết tất cả, đừng sợ khổ. Quý vị nếu không xả được cái tử, tức không đổi được cái sanh; không xả được cái giả, tức không thể thành tựu được cái chơn; không chịu được khổ thì không thể hưởng được phước.

(Tuyên Công Thượng Nhân giảng ngày 20, tháng2, năm1979)

 

----------------------------------------------

Chú 1:  Về nguồn gốc tên của Bồ-tát Long Thọ, trong Tuyền Pháp Chánh Tông Ký có ghi như sau:

Bồ- tát Long Thọ người nước Tây Thiên Trúc, nhưng không rõ Ngài họ gì. Có thuyết nói: Ngài xuất thân từ dòng Phạm chí, rất thông minh, tài giỏi và trí tuệ siêu việt hơn người, chẳng phải là người bình thường. Lúc trẻ, Ngài đã thuộc bốn bộ kinh điển Vệ-đà, lớn lên lại giỏi về thiên văn, địa lý, lại thông hiểu nghệ thuật[1] của các dân tộc và biết những điều thần k. Xưa, nước Ngài có ngọn núi cao tên là Long Thắng, giống rồng thường trú ngụ nơi này. Trên núi có nhiều cây lớn, các loài rồng thường ở dưới bóng cây. Đến khi Bồ-tát giác ngộ, muốn xuất gia, liền vào núi đó tu hành và ở bên những gốc cây ấy. Về sau, khi đã thông hiểu nghĩa lý sâu xa của Tam tạng kinh điển, Ngài thuyết pháp cho loài rồng nghe, nên có hiệu là “Long Thọ”.

Chú 2: Bài kệ truyền pháp của Tổ thứ mười ba phó chúc cho Tổ thứ mười bốn thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi:

Pháp chẳng ẩn chẳng hiện

Là bờ mé chân thật

Hiểu pháp ẩn hiện này

Chẳng ngu  cũng chẳng trí

非隱非顯法 

說是真實際
悟此隱顯法 

非愚亦非智

 

Chú 3:  Sự tích Bồ-tát Long Thọ vào long cung lấy kinh, nay căn cứ vào Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện, lược thuật như sau:

……Bồ-tát Đại Long dùng thần lực dẫn Bồ-tát Long Thọ vào long cung trong biển lớn, mở hòm bảy báu, lấy kinh Phương Đẳng Đại Thừa thậm thâm vi diệu và vô lượng diệu pháp cất giữ trong long cung trao cho Bồ-tát Long Thọ. Trong chín mươi ngày ở long cung Bồ-tát Long Thọ thông hiểu rất nhiều. Ngài lại đi sâu vào kinh tạng, lãnh hội được ý  nghĩa vi diệu, được lợi ích lớn và thọ dùng vô cùng.

Long vương biết tâm niệm của Ngài, hỏi: “Ngài đọc hết kinh chưa?” Bồ-tát Long Thọ đáp: “Kinh điển trong kho tàng vô lượng vô biên, tôi không thể xem hết được, nhưng những gì tôi đã đọc thì đã vượt quá gấp mười lần kinh điển có ở Diêm-phù-đề”.

Long vương lại nói: “Kinh điển Thích-đề-hoàn-nhân cất giữ trên trời Đao-lợi nhiều hơn long cung của ta gấp trăm ngàn vạn lần; kinh điển của ta cất giữ nhất định không thể so sánh với trên ấy”. 

Sau khi tụng đọc những kinh điển này, Bồ-tát Long Thọ hoát nhiên thông suốt, hiểu rõ pháp nhất tướng, thông đạt thật tướng, thấu triệt vô sinh, đầy đủ sinh nhẫn và pháp nhẫn. Long vương biết Ngài đã ngộ đạo liền đưa Ngài rời khỏi long cung……



[1] Nghệ thuật藝術: như văn học, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, vũ đạo, hý kịch, điện ảnh, khúc nghệ... 






Tổ thứ 15:  TÔN GIẢ CA-NA-ĐỀ-BÀ (Kanadeva)

 

 

Tôn giả, Nam Thiên Trúc quốc nhân. Sơ cầu phúc nghiệp, kiêm nhạo biện luận. Hậu yết Long Thọ tổ, tổ tri thị trí nhân, tiên khiển thị giả, dĩ mãn bát thủy, trí vu tọa tiền. Tôn giả kiến chi, tức dĩ nhất châm đầu chi nhi tiến, hân nhiên khế hội. Tổ tức vị thuyết pháp, bất khởi ư tọa, hiện Nguyệt Luân tướng, duy văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình. Tôn giả ngữ chúng viết: “Kim thử thụy giả, Sư hiện Phật Tính, biểu thuyết pháp phi thanh sắc dã.” Tổ tức vi thế độ, phó đại pháp. Tôn giả đắc pháp hậu, hành  hóa chí Ca-tỳ-la (Kapila) quốc, chuyển phó La-hầu-la-đa (Rahulata), tức nhập Phấn tấn tam-muội, phóng bát quang nhi quy tịch yên.

 

Dịch:

Tôn giả người xứ Nam Ấn, ban đầu Ngài chuyên về cầu phước và thích biện luận. Về sau, Ngài đến yết kiến tổ Long Thọ, Tổ biết Ngài là người trí nên sai thị giả lấy một bát nước đầy, đặt trước pháp tòa. Tôn giả thấy bát nước liền lấy cây kim bỏ vào, rồi bước tới, hai bên hân hoan khế hội. Tổ thuyết pháp cho Ngài nghe và hiện tướng mặt trăng ngay tại chỗ ngồi, khiến Ngài chỉ nghe tiếng Tổ nói mà không thấy hình. Tôn giả bảo đại chúng:

- Hôm nay Thầy hiện điềm lành là hiển bày Phật tánh và thuyết pháp nhưng không nghe tiếng và không thấy hình.

Tổ cho Tôn giả xuất gia và truyền đại pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến nước Ca-tỳ-la, truyền pháp cho La-hầu-la-đa, rồi nhập tam-muội Phấn tấn, phóng tám luồng ánh sáng và nhập diệt ngay trong đó.

                                  

Tán:

Phật Tổ ba tỵ

Trí giả nan am

Bát thủy đầu châm

Lạc nhị lạc tam

Nguyệt Luân tam-muội

Đại địa tinh thiên

Tất cánh như hà?

Thí trước nhãn khán! [1]

Dịch:

   Yếu chỉ Phật Tổ

Người trí khó lường

Bát nước ném kim

Ba rơi, hai rụng

Nguyệt Luân tam-muội

Đại địa tanh hôi

Chung cuộc ra sao?

Thử dõi mắt nhìn!

 

Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

Mãn bát thanh thủy tịnh vô trần

Nhất trâm đầu nhập lãng vi hôn

Tính giác linh minh nguyên phi vật

Trí quang biến chiếu bản lai chân

Như thị như thị quán tự tại

Thiện tai thiện tai ngộ thùy nhân?

Tổ sư truyền tâm chiêu đại đạo

Ngôn ngôn ngữ ngữ thuộc phù văn [2]

                    Dịch:

 Nước trong đầy bát chẳng bụi trần

Ném chiếc kim vào sóng gợn dâng

Linh minh tánh giác không là vật

Trí quang soi khắp bản lai chân

Như thế, như thế, quán tự tại

Lành thay, lành thay, ai ngộ chân?

Tổ Tổ truyền tâm soi sáng đạo

Ngữ ngôn, ngôn ngữ thuộc phù vân.

                                                                   

Giảng:

Tôn giả, Nam  Thiên Trúc quốc nhân: Tổ thứ mười lăm là Tôn giả Ca-na-đề-bà (Kanadeva), người nước Nam Thiên Trúc.

 cầu phúc nghiệp, kiêm nhạo biện luận: Về mấy chữ “cầu phúc nghiệp” thì hôm chủ nhật tuần trước, thầy Hằng Hoa đã viết lầm thành “cầu tổ nghiệp”. Tôi nghĩ, “cầu tổ nghiệp” là tổ nghiệp nào? Giảng cách nào cho xuôi đây? Có phải là tổ của ngài có cơ nghiệp lớn, lắm tiền nhiều của, rồi cầu làm sao để giữ cái di sản đó chăng? Chà! Giảng như vậy chẳng xuôi tý nào! Hay là cầu cái địa vị tổ sư? Giảng như vậy cũng chẳng thông nữa. Sau đó, xem lại đoạn văn, tôi mới hay đó là chữ “phúc” thay vì chữ “tổ”. Vốn là Ngài ưa cầu phúc báo nhân thiên và thích sự tranh biện.

Hậu yết Long Thọ tổ, tổ tri thị trí nhân, tiên khiển thị giả, dĩ mãn bát thủy, trí vu tọa tiền: Về sau, Ngài đến yết kiến Tổ thứ mười bốn là Bồ-tát Long Thọ. Bồ-tát Long Thọ biết Ngài là người trí, liền bảo thị giả lấy một bát nước đầy đặt trước pháp tòa.

Tôn giả kiến chi, tức dĩ nhất châm đầu chi nhi tiến, hân nhiên khế hội: Thấy bát nước, Tôn giả liền đến trước pháp tòa của Bồ-tát Long Thọ, lấy một cây kim bỏ vào. “Hân nhiên khế hội”, khế hội là khế hợp, tức Bồ-tát Long Thọ biết được ý Tôn giả và Tôn giả cũng biết được ý nghĩ của Bồ-tát Long Thọ. Nói là hân nhiên vì cả hai phía đều vui mừng, lấy tâm ấn tâm, tâm này hợp tâm kia, tâm này hiểu tâm kia.

Tổ tức vi thuyết pháp, bất khởi ư tọa, hiện Nguyệt Luân tướng, duy văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình: Tổ Long Thọ thuyết pháp cho Tôn giả nghe, dạy cách tu ra sao, dụng công như thế nào. Lúc ấy, Bồ-tát Long Thọ không rời khỏi tòa, mà hiện tướng mặt trăng giữa hư không, chỉ nghe âm thanh trong hư không mà không thấy hình dáng của Bồ-tát.

Tôn giả ngữ chúng viết: “Kim thử thụy giả, Sư hiện Phật Tính, biểu thuyết pháp phi thanh sắc dã.”: Tổ thứ mười lăm nói cho đại chúng biết điềm lành mà mọi người trông thấy là do “Thầy hiện Phật tánh”. Phật tánh là nói bổn tánh của Phật, biểu hiện bằng sự thuyết pháp không qua âm thanh và hình sắc, nghĩa là chẳng cứ phải có âm thanh hay hình tướng mới gọi là thuyết pháp.

Tổ tức vi thế độ, phó đại pháp: Thế là Bồ-tát Long Thọ cho Tôn giả xuất gia và truyền diệu pháp tâm ấn (chú 1). Tôn giả đắc pháp hậu, hành hóa chí Ca-tỳ-la quốc, chuyển phó La-hầu-la-đa: Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến nước Ca-tỳ-la (Kapila) thuộc nước Ấn Độ và tại đây Ngài truyền pháp tâm ấn cho Tôn giả La-hầu-la-đa (Rahulata). Tức nhập Phấn tấn tam-muội, phóng bát quang nhi quy tịch yên: Tôn giả nhập tam-muội Sư tử phấn tấn, phóng tám thứ ánh sáng, sau đó viên tịch.

 

    Tán

Phật Tổ ba tỵ, Trí giả nan am: Ý chỉ của Phật Tổ, dù người có trí tuệ cũng không thể hiểu được.

Bát thủy đầu châm, Lạc nhị lạc tam: Ném một cây kim vào trong bát nước, đó là rơi vào hai và ba [3], không phải là Đệ nhất nghĩa đế.

Nguyệt Luân tam-muội, Đại địa tinh thiên: Tôn giả lại nhập định Nguyệt Luân, vì đại địa này rất dơ bẩn.

Tất cánh như hà, Thí trước nhãn khán: Cuối cùng điều này nói lên điều gì? Quý vị nên nhìn lại một chút, không nên dùng tai để xem.

 

Kệ

Mãn bát thanh thủy tịnh vô trần: Một bát nước đầy và trong sạch không có gì, không một chút bụi.

Nhất trâm đầu nhập lãng vi hôn:  Ném một cây kim vào trong bát nước thì bát nước liền gợn sóng và vẩn đục.

Tính giác linh minh nguyên phi vật: Tánh giác linh minh, tức là không có vật gì. Nếu có vật gì thì không phải là tánh giác linh minh rồi!

Trí quang biến chiếu bản lai chân: Ánh sáng trí tuệ này cũng chính là cái “chân” bản lai kia, và “Phật tánh” kia cũng là chính quý vị.  

Như thị như thị quán tự tại: Nó là như vầy! Nó là như vầy! Nếu như quý vị được như vầy (như thị) thì quán tự tại được, nếu chẳng được như vầy thì chẳng quán tự tại được và sẽ không có sự tự tại.

Thiện tai thiện tai ngộ thùy nhân?: Nghĩa là “Hay lắm! Hay lắm!” Ngộ là ai đây? Tức nói ai là người được khai ngộ?

Tổ sư truyền tâm chiêu đại đạo: Bồ-tát Long Thọ, Tổ thứ mười bốn và Tôn giả Ca-na-đề-bà Tổ thứ mười lăm, các vị Tổ Sư đều dùng tâm ấn tâm, dùng tâm truyền tâm và sự việc diễn ra như vậy. Chiêu đại đạo là hiển bầy đại đạo một cách rõ ràng. 

Ngôn ngôn ngữ ngữ thuộc phù văn: Cái gì nói ra được thì cái đó chẳng phải là chân lý, cho nên nói đó là chỗ tắt đường ngôn ngữ, là chỗ tuyệt mọi hoạt động của tâm ý (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt).

Tôi lại nói với quý vị, tôi làm “kệ tụng” này chứ không phải làm thơ. Nếu làm thơ thì câu một và câu hai cũng không cần đối nhau. Quý vị xem  “Mãn bát thanh thủy” (một thau nước trong đầy) và “Nhất trâm đầu nhập” (Ném vào một cây kim) đều không phải là đối; “tịnh vô trần” (Sạch không chút bụi) và “lãng vi hôn” (sóng gợn dâng), cũng không phải đối. Chỉ có câu ba và câu bốn là đối, “Tính giác linh minh nguyên phi vật, Trí quang biến chiếu bản lai chân” (tánh giác linh minh không một vật, trí quang soi khắp bản lai chân), có thể xem là một câu đối. Quý vị xem!  “Tính giác linh minh, Trí quang biến chiếu”; “nguyên phi vật ”, “bản lai chân”, có thể gọi là đối. “Như thị như thị quán tự tại” (Như thế, như thế quán tự tại), “Như thị như thị” đối với “Thiện tai, thiện tai”; “quán tự tại” đối với “ngộ thùy nhân”. Quán là quan sát; ngộ là khai ngộ. “thùy nhân” người nào đó? “Tự tại”“thùy nhân” những từ đó đều có thể đối được. “Tổ sư truyền tâm chiêu đại đạo” (Tổ Tổ truyền tâm soi sáng đạo), câu tiếp theo không cần đối! “Ngôn ngôn, ngữ ngữ thuộc phù vân”, những lời quý vị nói ra đều là giả, vì vậy hiện tại tôi đang giảng cho quý vị cũng là giả, nhưng không nên lười biếng mới là thật. Vì thế, hôm nay tôi không lười biếng, giảng kinh xong, lại dạy cho quý vị học.

(Tuyên Công Thượng Nhân giảng vào ngày 22 tháng 4 năm 1979)

 

------------------------------------    

         Chú 1: Kệ truyền pháp của Tổ thứ mười bốn phó chúc cho Tổ thứ mười lăm, thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục như sau:

 

Vị minh ẩn hiển pháp

Phương thuyết giải thoát lý

Ư pháp tâm bất chứng

Vô sân diệc vô hỷ [4]

                   Dịch:

Vì rõ pháp ẩn hiện

Mới nói lý giải thoát

Không chứng được tâm pháp

Không giận cũng không vui



[1] Nguyên văn:

佛祖巴鼻 智者難諳 缽水投針 落二落三
月輪三昧 大地腥羶 畢竟如何 試著眼看

 

[2] Nguyên văn:

滿缽清水淨無塵 一針投入浪微昏
性覺靈明原非物 智光遍照本來真
如是如是觀自在 善哉善哉悟誰人
祖師傳心昭大道 言言語語屬浮文

 

 

[3] Lạc Nhị Lạc Tam: rơi vào hai vào ba.

Để hiểu rõ hàm nghĩa của “rơi vào hai vào ba” cũng như để biết cụ thể phương pháp thế nào để không “rơi vào hai, vào ba”, xin (trích) dẫn bài khai thị: “Số Không (Zero) Là Bí Quyết Để Phản Bổn Hoàn Nguyên” dưới đây của Hòa Thượng, giảng trong dịp Thiền Thất Mùa Đông 1982:

Số Không (Zero) Là Bí Quyết Ðể Phản Tĩnh Hoàn Nguyên

 

Ở thiền đường, những người đủ tư cách tham thiền, biết được chút ít mùi vị thiền thì không cần nói gì với họ nữa.

'Phàm hữu ngôn thuyết đô vô thật nghĩa'

nghĩa rằng:

'Nếu còn ngôn ngữ đều là không thật nghĩa'

Tuy nhiên, đói với những người sơ cơ không thể hoàn toàn không nói, nếu không nói mình sẽ đi vào chỗ cực đoan. Cho nên nói để làm chỗ cho quý vị dựa vào rồi tham thiền, đặng mở khai tâm địa. Tham thiền bí quyết là phải khiến tâm chuyên nhất. Vì vậy nói rằng:

'Thiên đắc nhất dĩ thanh,

Ðịa đắc nhất dĩ ninh.

Nhân đắc nhất dĩ thánh.

Vạn vật đắc nhất các chính tính mạng'

nghĩa là:

'Trời được Một nên thanh.

Ðất được Một nên yên.

Người được Một thành Thánh.

Mọi sự được Một mới chính là nó'

 

Nhất, số một, là nguyên thủy của vạn vật, tuy nhiên nó chưa phải là pháp cứu cánh. Tuy nói rằng:

'Ðắc nhất vạn sự tất.'

Nghĩa là:

'Khi được con số một, vạn sự đều xong.'

Nhưng nếu chấp trước vào cái này thì mình sẽ tự nhiên sinh ra hai, ba, bốn (lạc nhị, lạc tam),... đó không phải là cảnh giới chân không. Thế nào là chân không? Có nghĩa là số không. Cái số không này giống như vòng tròn vậy, không lớn không nhỏ, không có trong, không có ngoài, không có trước cũng chẳng có sau; không rơi vào mà cũng chẳng rớt ra. Tuy nhiên, tất cả số mục không ly khai số không này.

Người tu hành chính là tự nơi số một mà quay về số không, ở nơi số không mình có thể phát sinh vô lượng vô biên tác dụng. Tuy nói rằng 'Ðắc nhất vạn sự nhất', nhưng khi tới được số không này rồi thì số một cũng không còn nữa. Ðó chính là:

'Nhất Pháp bất lập, vạn lự giai không.'

nghĩa là:

'Chẵng lập Pháp gì, mọi tư tưởng đều không'

Ðó là cứu cánh giải thoát vậy.

Nếu muốn tới số không, thì trước hết phải chuyên nhất cái tâm của mình, đừng khởi vọng niệm, tâm thể chuyên nhất thì mới có cảm ứng. Cho nên chúng ta thường nghe nói: 'Cảm ứng đạo giao nan tư nghị' là vậy.

Chuyên nhất thì mới đến được chỗ không. Muốn chuyên nhất là chuyện không phải dễ. Muốn trở về số không lại càng khó khăn hơn nữa. Tuy gặp khó khăn chẳng lẽ mình không tham thiền sao? Nếu không tham thiền thì vĩnh viễn mình không thành đạo. Cái số không là mẹ của vạn Phật, nó là bổn nguyên của chư Phật vậy. Cho nên các vị học tọa thiền, đầu tiên phải học thế ngồi kiết già. Nếu như chân đau tê cứng, không chịu được, thì mình có thể phương tiện ngồi bỏ hai chân xuống, sau đó một thời gian thì phải tập ngồi bán già, ngồi bán già nếu chân không còn đau như trước thì phải tập ngồi kiết già. Khi ngồi kiết già vững rồi, chân không đau thì lúc đó mình mới bắt đầu tham thiền để phá bỏ vô minh. Người tu đạo, ăn mo mặc ấm đã đầy đủ, hết chuyện làm, nên tham thiền, đó gọi là du hí nhân gian. Tham thiền thì phải tham thoại đầu. Tham thiền tức là tham cứu niệm trước khi nó sinh ra, không phải là thoại vĩ. Thoại vĩ tức là niệm đã sinh ra rồi. Cho nên cái niệm chưa sinh thì gọi là thoại đàu. Thoại đàu phổ biến nhất là câu 'Niệm Phật là ai?' Chữ 'ai' này chính là cái mà mình phải tham. Tưởng tượng như mình có cái khoan, bây giờ mình lấy nó ra mà khoan, mà đục, dùi mài nó cho tới lúc đâm thủng được núi đá. Tìm coi 'ai' là người niệm Phật cũng vậy. Tham lui tham tới mãi cho đến khi đâm thủng được núi vô minh. Thì lúc đó mình sẽ khai ngộ. Nhưng không phải dụng tâm ý thức mà tham thiền, không phải dụng tư tưởng mà suy nghĩ, phải dụng cái tâm chưa hề dùng tới, chưa hề biết qua bao giờ. Khi phá thủng được cái bổn tham của mình, thì sẽ khai ngộ, hư không sẽ nát vụn, ngũ ấm đều là không. Nhưng trong Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh có nói rằng:

'Quán tự tại Bồ Tát,

hành thâm Bát Nhã,

Ba La Mật Ða thời

Chiếu kiến ngũ uẩn

Giai không độ nhất,

Thiết khổ ách, Xá Lợi Tử!

Sắc bất dị không,

Không bất dị sắc,

Sắc tức thị không,

Không tức thị sắc,

Thọ tưởng hành thức diệc

Phục như thị...'

Khi tham thiền đến chỗ như vậy thì ngũ ấm đều thành không, lục trần không còn nhiễm được nơi mình. Ðó chính là bước đầu tiên để thành Phật; nhưng mình phải khổ công mới được. Phải biết rằng tham thiền không như niệm Phật. Miệng niệm 'Ai là người niệm Phật? Ai là người niệm Phật? Ai là người niệm Phật?....' thể như là cầu cứu vậy, là sai lầm. Tham thoại đầu thì cần phải từ từ dùi mài nó hết sức tế tâm, miên mật, ở nơi tự tánh mình mà dụng công. Cho nên gọi là Tham Ngộ. Tham ngộ nghĩa là tham tức là ngộ; muốn ngộ cần phải tham. Thực ra 'Niệm Phật là ai?' chỉ là một vọng tưởng. Tuy nhiên mình muốn dụng phương pháp dĩ độc công độc. Dùng một vọng tưởng chế phục tất cả vọng tưởng khác. Dùng một niệm mà dẹp trừ tất cả vọng niệm khác.

Vừa rồi tôi nói đến số không, số không này là con đường để thành Phật. Ðối với phàm phu thì đó là không. Sau khi thành Phật rồi thì nó trở thành:

'Ðại quang minh tạng, đại viên kính trí.'

Số không này có thể sinh ra các Pháp, nhưng cũng có thể quét trừ các Pháp. Nó là gốc để mình phản bổn hoàn nguyên. Cho nên cần ở số không này mà dụng công phu. Có nghĩa rằng dụng công ở chỗ cái gì cũng không có. Tất cả các pháp đều do số không mà sinh, tất cả các pháp đều trở về số không. Cho nên:

'Nhất bổn tán vạn thù,

vạn thù nãi qui nhất bổn.'

nghĩa là:

'Một gốc mà phân ra trăm vạn hình thù,

trăm vạn hình thù rốt cuộc qui về một gốc.'

Ngày hôm nay tôi nói điều này cho quí vị nghe không phải là một nhân duyên nhỏ, mà đây là tiết lộ thiên cơ, tiết lộ cái bí mật của trời đất. Nói đến cái bổn nguyên của chư Phật. Ðó là điều kinh thiên động địa, khiếp vía quỷ thần. Con người làm sao thành Phật? Là khi hiểu số không này. Con người tại sao đọa địa ngục, bởi vì không hiểu số không này. Do đó tất cả thiên ma ngoại đạo, sơn yêu thủy quái, hồ ly tinh, hoàng thù lang, đủ thứ yêu quái, vỉ không hiểu số không này mới đi ngược lại với Ðạo, rồi đọa lạc.

Số không này tự nó mà sinh ra các thứ khác, tự nó mới sản sinh ra đủ thứ biến hóa dị đoan. Tuy rằng hình tướng bất đồng nhưng gốc lại là một. Phàm phu bởi vì không hiểu nó nên bỏ gốc theo ngọn, xa rời cái số không này. Dẫu sao tất cả chúng sanh có Phật Tánh, đều có thể thành Phật. Tạm thời mình không hiểu, nếu hiểu thì có thể lập tức thành Phật.

Giảng ngày 11 tháng 11 năm 1982

nhân ngày Ðả Thiền Thất

********

○字:返本還原的奧秘

一切法由○而生,一切法皆歸於○。

◎一九八二年十一月十一日晚
講於萬佛聖城十週禪七期間

在這個禪堂裏,有些人已經是老資格,參得有點味兒,所以沒有什麼話可說的,所謂「凡有言說,都無實義」,可是對初機者,不能完全不說,否則,更摸不著邊際,所以說幾句話,作為參禪的一個鑰匙,幫助你開啟心地裏的那把鎖。

參禪,祕訣在專一其心,所謂:

天得一以清,地得一以寧,
人得一以聖,萬物得一,各正性命。

所以「一」為萬物之始,可是還不是究竟法,雖然說「得一萬事畢」,但若在這個一生出執著,便落二、落三, 猶不是真空。什麼是真空?就是○(零)。這個○,像個圓圈,是無大無小,非內非外,無始無終,不落於數,但所有數目都未曾離開它。修行,要從「一」修回到 「○」。從這個○,能發生無量無邊的作用,雖然說:「得一萬事畢」;但到了這個○,連一事也無。這時候,「一法不立,萬慮皆空」,是究竟解脫!

想得到○,先要專一其心,不打任何的妄想,心念專一時,便發生「感應」,所謂「感應道交難思議」。專一就能得到○,要專一,很不容易。想回到這個○,更不容易。那麼,既然很不容易,就不參了嗎?要是不參,永遠不能成道。這個○,就是萬佛的母體,諸佛之本源。

所 以大家學坐禪,首先應該學跏趺坐。起初,若是腳很硬,痛得太厲害,可以方便坐;方便坐之後,繼而學單跏趺;單跏趺之後,腳不覺那麼痛了,可學習雙跏趺;雙 跏趺可以坐得住,腳不痛了,才是正式開始參禪。本來,參禪是沒有事情故意找點事情來做。譬如修道人吃飽了,睡夠了、穿暖了,沒有旁的事,便參禪,遊戲人 間。

參 禪要參話頭。話頭,就是話語剛開頭,不是話尾。也就是一念未生之前的一個預兆。最普遍的話頭,是「念佛是誰?」這個「誰」字,要把它拉長來參,細玩其味, 就像一把金剛鑽,要往心裏頭鑽出一個窟窿來。找到是誰?便開悟,可是這不能靠想像、猜測,或在心意識上參,而是要細細探索到你從未到過,從未知道的領域 上。一旦破本參,豁然開悟,虛空粉碎,五蘊皆空。這就是《般若波羅蜜多心經》上所說的:「觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍 利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識。亦復如是。」

參 到了這個境界,五蘊皆空,六塵不染,才是成佛的第一步,但必須要下一番苦功。又要知道,參禪不同於拼命念佛,不是拼命口念:「念佛是誰、念佛是誰、念佛是 誰……」,好像叫救命似的。參話頭,要慢條斯理,細心在自性上摸索。所謂「參悟,參即是悟,悟必要參。」其實,「念佛是誰?」也是一個妄想,但這是以毒攻 毒,以一妄制諸妄,以一念息萬念的法門。

剛才所說的○:○是成佛之道。在凡夫份上,是○。成佛後,便成為大光明藏、大圓鏡智。○能生一切法,能掃一切法。返本還原,必要在○字上用功夫,即是「什麼也沒有處」著手。一切法由○而生,一切法皆歸於○,所謂:「一本散為萬殊,萬殊仍歸一本。」

今 天我跟諸位講的話,你不要以為這是個小因緣。這種法是「洩天地未洩之祕密,發諸佛未發之本源」,是驚天地、泣鬼神。人為什麼成佛?就因為懂這個○。人為什 麼墮地獄,就因為不懂這個○。所以,一切天魔外道、山妖水怪、狐狸精、黃鼠狼等等,都因為不懂這個○,所以背道而馳而墮落。從○生出諸數,才產生這麼多種 種變化異端。可是形相雖然不同,基本是一樣的。凡夫因為不明白,才捨本逐末,離○甚遠。可是「一切眾生,皆有佛性,皆堪作佛。」暫時雖不明白,一旦明白過 來立刻可以成佛。


[4] Nguyên văn:

為明隱顯法 方說解脫理
於法心不證 無瞋亦無喜







Tổ thứ 16:   TÔN GIẢ LA-HẦU-ĐA-LA (RAHULATA)

 

 

Tôn giả, Ca-tỳ-laquốc nhân, phụ danh Phạm Ma Tịnh Đức. Gia hữu viên thụ, sanh nhĩ như khuẩn, vị thậm mỹ. Duy Tịnh Đức dữ thứ tử La-hầu-la-đa đắc thủ nhi thực, tùy thủ tùy trưởng. Nhân Thập ngũ Tổ chí kỳ gia, viết: “Nhữ niên bát thập nhất, thử thụ bất sanh nhĩ.” Tịnh Đức văn, di gia thán phục. Thả viết: “Đệ tử suy lão, bất năng sự Sư, nguyện xả thứ tử, tùy Sư xuất gia.” Tổ viết: “Tích Như Lai ký thử tử, đương đệ nhị ngũ bách niên, vi đại giáo chủ. Kim chi tương ngộ, cái phù túc nhân.” Tức dữ thế độ, chấp thị, hậu phó dĩ đại pháp. Đắc pháp dĩ, hành hóa chí Thất-la-phiệt thành (Sravasti), chuyển phó dữ Tăng-ca-nan-đề (Sanghanandi), tức an tọa quy tịch.

 

Dịch:

Tôn giả người nước Ca-tỳ-la (Kapila), cha tên Phạm Ma Tịnh Đức. Cây trong vườn nhà Ngài sinh nhiều nấm có hương vị rất ngon, nhưng nấm này chỉ có Tịnh Đức và người con thứ La-hầu-la-đa mới hái được để ăn và cứ hái xong thì nấm lại mọc lên. Một hôm, nhân Tổ thứ mười lăm (Ca-na-đề-bà) đến nhà Ngài nói với cha Ngài:

- Khi ông 81 tuổi thì cây này không mọc nấm nữa.

Nghe xong, Tịnh Đức càng thêm thán phục, thưa:

- Thưa Thầy! Đệ tử đã già yếu, không thể hầu Thầy, xin Thầy cho đứa con thứ của con theo Thầy xuất gia.

Tổ bảo:

- Xưa, Đức Phật đã thọ ký cho đứa bé này là về sau, đến kỳ thứ nhì của khoảng thời gian 500 năm, sẽ là một vị đại giáo chủ. Nay gặp đây, quả là phù hợp nhân duyên đời trước.

Tổ liền cho Tôn giả xuất gia và làm thị giả. Về sau, Tổ truyền đại pháp cho Ngài. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến thành Thất-la-phiệt (Sravasti), truyền pháp cho Tôn giả Tăng-già-nan-đề (Sanghanandi) rồi ngồi an nhiên trên tòa thị tịch.

 

Tán:

Túc nhân ký phù

Huyền cơ mặc khế

Thụ đại pháp tràng

Di thiên tạp địa

Nhị thiên niên lai

Tư tông miên kế

Kham tiếu nhi tôn

Kình xoa đoạn tý[1]

                             Dịch:

Nhân xưa đã ứng

Thầm hợp huyền cơ

Dựng cờ đại pháp

Che phủ đất trời

Hai nghìn năm nữa

Tiếp nối tông này

Nực cười con cháu

Lấy chĩa đoạn tay!

 

Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

Tịnh Đức đạo chủng sản kỳ tài

Viên hữu dị thọ trưởng nhĩ đài

Tôn giả thái trích phục sanh khuẩn

Như Lai thọ ký nhị ngũ bách

Túc duyên ký phù huyền cơ khế

Hiện quả khắc chứng diệu luân khai

Tục Phật tâm đăng quang vô tận

Vạn kiếp thiên thu vĩnh miễn hoài[2]

                   Dịch:

Tịnh Đức khéo tu sinh kỳ tài

Vườn nhà cây lạ trổ nấm sai

Tôn giả hái xong nấm lại mọc

Như Lai thọ ký hai năm trăm

Nhân trước huyền cơ nay khế hợp

Quả chứng viên thành diệu lý khai

Nối đèn tâm Phật soi vô tận

Vạn kiếp nghìn thu vẫn nhớ hoài.

 

 

Giảng:

Tôn giả, Ca-tỳ-laquốc nhân, phụ danh Phạm Ma Tịnh Đức: Từ Đức Phật Thích-ca từng đời truyền về sau, đây là vị Tổ đời thứ mười sáu - Tôn giả La-hầu-la-đa. Tôn giả người nước Ca-tỳ-la, thân phụ ngài là Phạm Ma Tịnh Đức.

Gia hữu viên thụ, sanh nhĩ như khuẩn, vị thậm mỹ: Trong vườn hoa Nhà Tôn giả có một cây thường mọc loại mộc nhĩ, như nấm dùng để  ăn. Nấm này có hương vị thơm ngọt, nhưng người khác không thể hái được, Duy Tịnh Đức dữ thứ tử La-hầu-la-đa đắc thủ nhi thực, tùy thủ tùy trưởng: Chỉ có Phạm Ma Tịnh Đức và người con thứ La-hầu-la-đa mới hái nấm được để ăn và khi hái xong thì nấm lại mọc. Trong tình huống ấy, cây này trở thành một loại cây quý.

Nhân Thập ngũ Tổ chí kỳ gia, viết: “Nhữ niên bát thập nhất, thử thụ bất sanh nhĩ.”: Một hôm, Tổ thứ mười lăm là Tôn giả Ca-na-đề-bà đến nhà Ngài, nói với cha Ngài: “Đến khi ông 81 tuổi thì cây này không còn mọc nấm nữa”.

Tịnh Đức văn, di gia thán phục. Thả viết: “Đệ tử suy lão, bất năng sự Sư, nguyện xả thứ tử, tùy xuất gia.”: Nghe Tổ thứ mười lăm nói vậy, Tịnh Đức rất kính phục. Rốt cuộc vì sao cha Ngài kính phục? Vì cha Ngài tin vào lời nói của Tổ thứ mười lăm, nên Tổ thứ mười lăm nói gì cha Ngài cũng tin tưởng? Nhân đó, cha Ngài thưa: “Thưa Thầy! Đệ tử đã già yếu, không thể hầu Thầy được, xin Thầy cho đứa con thứ hai của con theo Thầy xuất gia tu học”.

Tổ viết: “Tích Như Lai ký thử tử, đương đệ nhị ngũ bách niên, vi đại giáo chủ. Kim chi tương ngộ, cái phù túc nhân.”: Tổ thứ mười lăm kể lại rằng, trước đây lối một ngàn năm, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã từng tiên đoán rằng về sau, lần thứ nhì của khoảng thời gian 500 năm, đứa nhỏ này chính là một vị đại giáo chủ của thế gian. Tổ nói: “Nay gặp cha con ông ở đây, chính là do các quan hệ từ kiếp xưa. Tất cả đều từ nhân quả mà chúng ta đã gặp nhau.”

Tức dữ thế độ, chấp thị, hậu phó dĩ đại pháp: Tổ bèn cho Tôn giả La-hầu-la-đa cắt tóc xuất gia. Tổ cho làm thị giả, về sau thấy Tôn giả đúng là kẻ chân tu nên truyền đại pháp cho Ngài (chú 1). Đại pháp chính là tâm pháp.   

          Đắc pháp dĩ, hành hóa chí Thất-la-phiệt thành (Sravasti), chuyển phó dữ Tăng-ca-nan-đề (Sanghanandi), tức an tọa quy tịch: Sau khi đắc pháp, Tôn giả La-hầu-la-đa đến thành Thất-la-phiệt, Ấn độ và truyền pháp cho Tôn giả Tăng-già-na-đề, rồi ngồi kiết già, nói với mọi người:  “Ta sắp đi rồi!”. Nói xong, Ngài viên tịch.

                                               

Tán

Túc nhân ký phù, Huyền cơ mặc khế: Tổ nói đời trước có nhân này, nên phù hợp với nhau! Đức Phật sớm đã tiên đoán cơ duyên vi diệu này, nên thầm khế hợp. 

Thụ đại pháp tràng, Di thiên tạp địa: Dựng một ngọn cờ đại pháp che phủ trời đất, khắp ba nghìn đại thiên thế giới.

Nhị thiên niên lai, Tư tông miên kế: Sau hơn hai nghìn năm, pháp môn đèn tâm của Đức Phật tiếp tục truyền thừa về sau.

Kham tiếu nhi tôn, Kình xoa đoạn tý: Thật buồn cười! Người đời sau, muốn gánh vác cây chĩa, lại thành đoạn cánh tay! Vậy là làm hỏng hết! Chẳng phải lối tu hành chân chánh.[3]  

 

Kệ

Tịnh Đức đạo chủng sản kỳ tài: Vì có thiện căn và cội đức xưa, nên trưởng giả Phạm Ma Tịnh Đức sinh được một cậu con trai đặc biệt, là một nhân tài tuyệt thế.

Viên hữu dị thọ trưởng nhĩ đài: Trong vườn nhà trưởng giả có một cây rất kỳ lạ, cây này mọc loại nấm như nấm mèo.

Tôn giả thái trích phục sanh khuẩn: Tôn giả tức chỉ Tôn giả La-hầu-đa-la. Nếu Ngài hái nấm ấy thì nấm lại mọc tiếp, còn người khác thì không.

Như Lai thọ ký nhị ngũ bách: Đức Phật Thích-ca Mâu-ni hơn một nghìn năm trước đã thụ ký là về sau La-hầu-la-đa có thể làm đại giáo chủ của Phật giáo. Hai năm trăm nghĩa là hai lần năm trăm năm.

Túc duyên ký phù huyền cơ khế: Thế là nhân xưa đã phù hợp, cơ huyền diệu không thể nghĩ bàn cũng khế hợp!

          Hiện quả khắc chứng diệu luân khai: Quả vị của Tổ Sư hiện tại Ngài đã chứng đắc. Ngài thăng tòa thuyết pháp, chuyển pháp luân vi diệu, để giáo hóa chúng sinh.

Tục Phật tâm đăng quang vô tận: Truyền tâm ấn của Đức Phật cũng là truyền đèn tâm của Đức Phật, ánh sáng của các ngọn đèn này chiếu soi lẫn nhau, mãi mãi vô cùng vô tận.

Vạn kiếp thiên thu vĩnh miễn hoài: Bất luận sau bao lâu nữa, mọi người đều tưởng nhớ đến vị Tổ sư này, là Tổ thứ mười sáu –Tôn giả La-hầu-la-đa. 

          Nói thêm một chút về chuyện nấm mọc trên cây. Theo trên đã ghi thì chỉ có Phạm Ma Tịnh Đức và La-hầu-la-đa hái được nấm này, hái xong nấm liền mọc, còn người khác hái thì không. Đây là đạo lý gì? Ai có ý kiến gì?

Một chút vấn đề cũng không có? Câu đối tối hôm qua: “Vũ trụ vạn vật đều thuyết pháp (vũ trụ vạn vật giai thuyết pháp), ai hiểu được?” Đây chính là thọ thần ủng hộ vị Tổ này, hiện ra điều linh dị ấy để nói lên một bài pháp đặc biệt, khiến cho những ai không tin nhân quả, không tin Phật, cố chấp vào hiểu biết của mình và những kẻ ngu si, khi chứng kiến sự việc lạ lùng này mà nẩy sanh tín tâm. Đó là cách biểu hiện ủng hộ Phật pháp của vị thọ thần ở đó. 

Như lúc Hòa Thượng Hư Vân truyền giới tại Vân Nam , trên cây nở hoa sen trắng, trên tất cả rau cỏ đều có một hóa Phật xuất hiện. Đó là nguyên nhân gì? Là do đức hạnh của Hòa Thượng chiêu cảm, cây cối hoa quả ở đó đều tương ưng để thuyết pháp, nên mới có cảm ứng kỳ lạ này, là hiện tượng không thể nghĩ bàn. Như vậy, quý vị không nên cho rằng đây là một việc kỳ lạ. Các câu chuyện về cảm ứng kỳ lạ của quý Ngài thì không sao nói hết được.

          Sự thể là như vậy nhưng trên thế gian này vẫn có người không tin Phật, lại còn nói Phật giáo như thế đó là mê tín, là trái với quy luật khách quan (logic). Cũng có người đi vào Phật giáo để xem xét, coi thử Phật giáo rốt ráo là như thế nào. Tuy nhiên, cho dù có ý tưởng xem xét theo như cách đó, thì cũng phải có một sự nhận thức chân chánh từng điểm một, cái gì là chánh pháp, cái gì là tà pháp, cái gì phải tu, cái gì không tu, như vậy dần dà sẽ có ngày tự mình hiểu rõ sự chân chánh. Vì vậy, giáo nghĩa của Phật giáo là công khai, mọi người đều có thể nghiên cứu, khảo sát. Tin hay không còn do nơi chính mình.

 (Tuyên Công thượng nhân giảng vào ngày 7 tháng 8 năm 1981) 


Chú 1: Bài kệ truyền pháp của Tổ thứ mười lăm phó chúc cho Tổ thứ mười sáu, thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục như sau:

Bổn đối truyền pháp nhân

Vị thuyết giải thoát lý

Ư pháp thực vô chứng

Vô chung diệc vô thủy[4]

                             Dịch:

Vốn đối người truyền pháp

Vì nói lý giải thoát

Với pháp thật không chứng

Không chung cũng không thủy.



[1] 宿因既符 玄機默契 樹大法幢 彌天匝地
  
二千年來 斯宗綿繼 堪笑兒孫 擎叉斷臂

 

[2] 淨德道種產奇才 園囿異樹長耳苔
 
尊者採摘復生菌 如來授記二五百
 
宿因既符玄機契 現果克證妙輪開
 
續佛心燈光無盡 萬劫千秋永緬懷

 

[3] Lời lẽ trong nguyên tác chữ Hán về đoạn này rất là cô đọng. Vậy xin trích ra đây để độc giả rộng đường tham khảo như sau: 堪笑兒孫,擎叉斷臂:可笑啊!後邊的人,想拿著叉子,卻斷了胳臂;那麼這也是盡胡鬧,不好好修行。

[4]  本對傳法人 為說解脫理
 於法實無證 無終亦無始

 



Tổ thứ mười bảy:  TÔN GIẢ TĂNG GIÀ NAN ĐỀ (Sanghanandi)

 

Tôn giả là thái tử con vua Bảo Trang ở thành Thất-la-phiệt. Mới lên bảy, Ngài đã chán thú vui ở đời, xin được xuất gia. Một đêm nọ, Ngài đến động đá lớn ngồi thiền trong đó. Tổ thứ mười sáu (La-hầu-la-đa) đến đó, thấy Ngài đang ngồi yên nhập định, Tổ chờ đến hai mươi mốt ngày, Ngài mới xuất định, Tổ hỏi:

- Thân ông định hay tâm ông định?

Tôn giả đáp:

- Thân tâm đều định.

Tổ bảo:

- Thân tâm đều định, sao lại có xuất nhập?

Tôn giả đáp:

- Tuy có xuất định và nhập định nhưng vẫn không mất tướng của định.

Tổ vặn hỏi:

- Ông không mất tướng định, thì hãy đem tướng định cho ta xem?

Tôn giả hoát nhiên tỏ ngộ, liền xin Tổ tế độ. Tổ dùng tay phải cầm bát giơ cao lên tận cung điện Phạm thiên, lấy cơm thơm về cùng ăn với Tôn giả. Còn Tôn giả lấy tay phải đưa xuống tận kim cương luân[1], lấy nước cam lồ cho vào bình lưu ly, rồi dâng lên Tổ. Tổ truyền đại pháp cho Tôn giả. Về sau, Tôn giả đến nước Ma-đề truyền pháp cho Già-da-xá-đa, rồi dùng tay phải níu cành cây mà thị tịch.

 

Bài tán:

Xả bỏ ngôi vua

Vào hang thiền tọa

Chợt gặp thầy cũ

Vén mở vật xưa

Ấy Sa- la vương[2]

Ngay lúc gặp giặc

Đập vỡ vụn bát

Biển vàng[3] mêng mang.

 

Khí xả vương vị 

Yến tọa thạch quật 

Hốt ngộ tác gia 

Hiên phiên cố vật

Thị Sa-la vương 

Đương miến trước tặc 

Kích toái bát vu 

Kim hà hải khoát

 

棄捨王位 晏坐石窟 忽遇作家 掀翻故物
是娑羅王 當面著賊 擊碎缽盂 金河海闊

 

Kệ rằng:

Bảy tuổi hiểu đời nguyện xuất gia

Hang đá tập thiền lánh phù hoa

Vốn không các tướng lìa ngôn thuyết

Có gì rối rắm hai hay ba

Thầy trò đạo hợp cùng chung lối

Nhân nào quả ấy như hằng sa

Tri âm khó gặp người nhân hiếm

Đèn tâm tiếp nối mãi truyền xa.

 

Thất tuế yếm thế nguyện xuất gia 

Thạch quật tập định giới phù hoa

Bổn vô chư tướng ly ngôn thuyết 

hữu cát đằng lạc nhị tam

Sư tư đạo hợp đồng nhất lộ 

Lan nhân nhứ quả các thiên bàn

Tri âm nan ngộ nhân giả tiên 

Tâm đăng vĩnh tục cổ kim truyền

 

七歲厭世願出家 石窟習定戒浮華
本無諸相離言說 何有葛藤落二三
師資道合同一路 蘭因絮果各千般
知音難遇仁者鮮 心燈永續古今傳                                                                
(HT. Tuyên Hóa)

 

 

Giảng:

          Tôn giả là thái tử con vua Bảo Trang ở thành Thất-la-phiệt: Tôn giả là vị Tổ sư Ấn-độ thứ mười bảy được truyền tâm ấn, tên là Tăng-già-na-đề, người thành Thất-la-phiệt. Đây là một thành lớn do quốc vương Bảo Trang trị vì và vị thái tử con vua chính là Tôn giả.

Mới lên bảy, Ngài đã chán thú vui ở đời: Nhưng mới lên bảy tuổi, vị thái tử này đã không thích những thú vui thế gian. Vì sao Ngài không thích tất cả những thú vui thế gian? Vì Ngài có thiện căn sâu dày, không giống người bình thường như chúng ta, tinh thần điên đảo, cuốn theo dòng nước, trôi nổi trong biển khổ sinh tử. Ngài nguyện không trôi nổi trong biển khổ sinh tử, nên đã chán ngán không còn hứng thú những thú vui thế gian. Ngài xin được xuất gia: Ngài xin phụ vương cho Ngài xuất gia tu hành. Vì thế, Ngài thường tọa thiền. Mới lên bảy, Ngài bắt đầu tập tọa thiền, ngồi tư thế kiết già. Ngài thường tọa thiền  một ngày, hoặc một đêm. Ngài đã tập luyện như thế. (Chú 1) 

Một đêm nọ, Ngài đến một động đá lớn thiền tọa trong đó: Một đêm nọ, Ngài đến một hang đá lớn và tọa thiền ở trong đó.

Tổ thứ mười sáu  (La-hầu-la-đa) đến đó, thấy Ngài đang ngồi yên nhập định, Tổ chờ đến hai mươi mốt ngày, Ngài mới xuất định: Lúc Ngài tọa thiền trong hang đá, Tổ thứ mười sáu đến, nhìn thấy Ngài đang nhập định, cho nên ở lại, đợi đến hai mươi mốt ngày, Ngài mới xuất định.

Tổ hỏi: Thân ông định hay tâm ông định? Tổ thứ mười sáu thấy Ngài tọa thiền hai mươi mốt ngày, bèn hỏi: “Khi ông tọa thiền thì thân nhập định hay tâm nhập định?”

Tôn giả đáp: Thân tâm đều định: Tôn giả Tăng-già-nan-đề đáp: “Thân định mà tâm cũng định”, nghĩa là hoàn toàn không phải chỉ thân định mà tâm không định; hoặc chỉ tâm định mà thân không định, ở đây thân tâm đều định. Ngài trả lời rất hợp lý.

Tổ bảo: Song Tổ thứ mười sáu vẫn muốn biện luận với Ngài, để tìm ra khuyết điểm của Ngài, liền nói: “Thân tâm đều định, sao lại có xuất nhập?” Thân tâm ông đều định, tại sao còn có xuất định và nhập định? Thân ông định, tâm ông cũng định thì lúc nào cũng phải ở trong định, làm gì còn có xuất và nhập nữa?

Tôn giả đáp: Tuy có xuất định và nhập định nhưng không mất tướng định: Tổ thứ mười bảy tức Tôn giả Tăng-già-na-đề liền trình bày rằng, tuy nhắc đến cảnh giới xuất định và nhập định, nhưng “tướng định” thì không mất, nghĩa là cái cảnh giới khi nhập định không hề bị mất; đến khi tỉnh, cảnh giới vẫn như vậy không khác so với khi còn trong định.   

Tổ vặn hỏi: Lúc ấy, Tổ thứ mười sáu nói: “Ông không mất tướng định, thì hãy đem tướng định cho ta xem? Thử xem tướng định của ông hình dáng thế nào?”  Tổ vặn hỏi  Ngài như vậy.

Tôn giả hoát nhiên tỏ ngộ: Tôn giả Tăng-già-nan-đề hoát nhiên tỏ ngộ, hiểu rõ tất cả các pháp vốn thanh tịnh, tất cả đại định vốn không xuất không nhập, đó chính là đã khai ngộ! Hoát nhiên chính là khai ngộ.

Tôn giả liền xin Tổ độ thoát: Thế là, Tôn giả liền xin Tổ thứ mười sáu cho Ngài xuất gia.

          Tổ dùng tay phải cầm bát giơ cao lên tận cung điện Phạm thiên lấy cơm thơm về: Tổ thứ mười sáu dùng tay phải cầm bát giơ lên cao, tới tận cung trời Đại Phạm, thọ nhận cúng dường của chư thiên rồi đem về cùng ăn với Tôn giả: Lúc ấy, Tổ nói: “Ông ăn đi! Ông tọa thiền nhiều ngày như vậy, nên ta đến cúng dường ông!” Thế rồi, Tổ và Tôn giả cùng ăn cơm thơm hương tích của cõi trời.    

 (Sau đây là phần của đệ tử của Hòa Thượng thêm vào.)

Đồng thời Tổ bảo đại chúng cùng ăn, nhưng lúc ấy đại chúng bỗng sinh tâm ghê tởm, nên không thể thọ dụng cơm thơm được. Tổ thứ mười sáu nói: “Đây không phải lỗi của ta mà do nghiệp cảm của các ông”. Tổ liền nhường một nửa chỗ ngồi rồi bảo Tôn giả Tăng-già-nan-đề ngồi vào cùng dùng cơm. Đại chúng càng sinh tâm nghi hoặc: “Tại sao không có chút quy củ gì giữa sư phụ và đệ tử, lại cũng không có sự phân biệt nào về tôn ti, tuổi tác?”  

Biết lòng nghi hoặc của đại chúng, Tổ bảo: “Các ông không thưởng thức được cơm thơm này là có nguyên nhân. Các ông nên biết! Người cùng ngồi ăn cơm với ta chính là Phật Sa La Thọ Vương ở kiếp Trang Nghiêm thời quá khứ, ứng thân đến thế gian này để giáo hóa chúng sinh, về sau sẽ làm Tổ thứ mười bảy. Còn các ông thì vào kiếp Trang Nghiêm đã đắc đến quả thứ ba, nhưng chưa chứng được quả vô lậu.”   

Đại chúng nghĩ: “Chúng ta hoàn toàn tin tưởng năng lực thần thông của Thầy. Nhưng Tổ nói Tôn giả là Phật Sa La Thọ Vương thời quá khứ, chúng ta làm sao tin được? Lúc ấy, Tôn giả Tăng-già-nan-đề biết đại chúng sinh tâm khinh mạn, liền nói: “Lúc Đức Phật còn tại thế, thế giới này bằng phẳng, không có đồi núi, sông ngòi, kênh rạch, nước rất ngọt, cây cối sinh trưởng tốt tươi, đất nước giàu có, không có tám đường khổ và mọi người đều thực hành mười điều thiện. Hiện tại, Đức Phật đã nhập Niết-bàn hơn 800 năm, thế giới này gò nổi lồi lõm, cây cối héo khô, con người không có tín tâm chân chính và chính niệm, không tin Chân như Phật tính mà chỉ thích năng lực thần thông.”

(Đệ tử chỉ bổ sung đến đây). 

Còn Tôn giả lấy tay phải đưa xuống tận kim cương luân lấy nước cam lồ cho vào bình lưu ly, rồi dâng lên Tổ: Lúc ấy, Tôn giả cũng đã chứng thần thông, liền duỗi tay phải xuống tận đáy của lòng đất, đến tầng kim cương luân, chỗ ấy có nước ngọt như cam lồ, rồi lấy bình lưu ly đựng nước ấy mang về. Ước chừng ăn cơm thơm xong, mọi người cùng uống nước cam lồ. Trước quang cảnh ấy, ai nấy đều thấy vô cùng cảm khái, nên tức thời đảnh lễ sám hối.

Tổ truyền đại pháp cho Tôn giả. Về sau, Tôn giả đến nước Ma-đề truyền pháp cho Già-da-xá-đa: Tổ thứ mười sáu truyền pháp cho Tôn giả (Chú 2). Về sau, Tôn giả đến nước Ma-đề, truyền pháp cho Tôn giả Già-na-xá-đa. Truyền pháp xong, Ngài dùng tay phải níu cành cây mà thị tịch.: Lúc ấy, Tôn giả Tăng-già-nan-đề đưa tay phải vịn cành cây, thân Ngài treo lơ lửng giữa hư không, rồi viên tịch! Không bệnh gì mà Ngài viên tịch, quý vị nói như vậy là tự tại hay không tự tại? Ái chà! Thật là giải thoát! Quý vị xem, Tôn giả đưa tay phải níu cành cây mà viên tịch. Thật là thú vị!

 

                                                Bài tán:

Xả bỏ ngôi vua, vào hang thiền tọa: Tôn giả vốn phải làm một vị hoàng đế, nhưng Ngài không làm hoàng đế mà đến hang đá tọa thiền trong đó. 

Chợt gặp thầy cũ, vén mở vật xưa: Bỗng gặp một tác gia chân chính! Tác gia chính là thiện tri thức. Gặp thiện tri thức, “vén mở vật xưa”, mới phá tan chấp trước cố chấp của Ngài!

          y Sa-la Vương, ngay lúc gặp giặc: Ở đây như Phật Sa La Thọ Vương gặp giặc, lập tức bắt lấy.

Đập vỡ vụn bát, biển vàng mênh mang: Đập bát vỡ vụn, “Kim Hà hải khoát”, Hằng hà còn gọi là “Kim hà”; biển rộng (hải khoát) như biển lớn. Ở đây nói Phật pháp như biển lớn, càng truyền càng rộng, càng truyền càng nhiều.

                                                     

Kệ rằng:

Bảy tuổi hiểu đời nguyện xuất gia: Lúc lên bảy, Tăng-già-na-đề đã không thích những thú vui thế gian, mà chỉ thích xuất gia tu hành.

Hang đá tập thiền lánh phù hoa: Bấy giờ, Ngài tu tập thiền định trong hang đá, “lánh phù hoa”: Ngài không cống cao ngã mạn, không cảm thấy mình hơn người nào, và cũng không có ý nghĩ giả trang thiền tướng bên ngoài. Quý vị xem! Ngài là thái tử của một quốc vương, nhưng không tận hưởng khoái lạc trong cung vàng điện ngọc, mà xả bỏ tất cả không chút kiêu ngạo, khoe khoang. Nhờ tập khí phù hoa không có, nên Ngài ở đó tu hành như vậy.

Vốn không các tướng lìa ngôn thuyết: Tu hành phải “quét sạch tất cả pháp, xa lìa tất cả tướng” (tảo nhất thiết pháp, ly nhất thiết tướng), phá sạch tất cả chấp trước. Nếu quý vị còn tồn tại một chút “tướng” thì rất phiền toái. Nói chung, nếu có ngôn thuyết thì không phải là thật nghĩa.

Có gì rối rắm hai hay ba: Rối rắm chính là thừa thãi, vô dụng, như việc trên đầu lại đặt thêm một cái đầu. Đệ nhất nghĩa đế đã đầy đủ, còn phải rơi vào hai hay ba làm gì? Vì vậy, chúng ta tu hành, muốn rõ pháp chân chính thì phải lìa tướng ngôn thuyết, tâm phan duyên và văn tự. Nếu quý vị không thể xa lìa tất cả tướng thì dù tu hành đến mức độ nào, cũng chỉ là thay đổi bên ngoài mà thôi.   

Thầy trò đạo hợp cùng chung lối: Tổ thứ mười sáu gặp Tổ thứ mười bảy, điều này có thể nói là “thầy trò đạo hợp”, đạo giống nhau và cùng đi trên một con đường!

Nhân nào quả ấy như hằng sa: Có người nhân xưa rất tốt, nên kết quả cũng rất tốt, tất cả đều rất viên mãn. Chẳng qua mỗi người tu hành khác nhau, vì gieo nhân khác nhau, nên kết quả cũng khác, do đó nói “Nhân nào quả nấy, muôn màu muôn vẻ”.

Tri âm khó gặp người nhân hiếm: Tu hành chân chính có thể hiểu rõ nhau, sư phụ và đệ tử hiểu nhau, đây là việc rất khó. “Người nhân hiếm”, người tu hành chân chính từ bi, thực hành nhân nghĩa rất hiếm.

Đèn tâm tiếp nối mãi truyền xa: Đời này truyền lại đời sau, pháp môn dùng tâm ấn tâm này, do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni truyền đến Tổ thứ mười bảy, cho đến hiện tại, đều là tâm pháp truyền trao từ xưa đến nay. 

 (Tuyên Công Thượng Nhân giảng vào ngày 8, tháng 8, năm 1981)

 


Chú 1: Về nhân duyên xuất gia của Tôn giả Tăng-già-na-đề, trong “Truyền Pháp Chánh Tông Ký” có ghi như sau:

Tăng-già-na-đề, người nước Thất-la-phiệt, dòng sát-đế-lợi, là thái tử của vua Bảo Trang Nghiêm. Bồ-tát vừa sinh ra đã biết nói, nói chuyện với mẹ thường chỉ nói chuyện Phật sự. Vua và hoàng hậu thấy lạ, liền vời quốc sư đến hỏi con mình tại sao lại như vậy. Quốc sư nước này là người khác thường, có thể biết được việc xưa, liền tâu: “Tâu bệ hạ! Thái tử xưa là Phật Sa-la-vương, vì muốn hóa độ chúng sinh nên thị hiện sinh vào cung vua. Lên bảy tuổi, thái tử sẽ trở về với đạo, rời cung vua đến tu tập trong hang đá Kim Hà”. Vua và hoàng hậu thương con, nơm nớp lo sợ thái tử sẽ y như lời quốc sư nói. Đến năm lên bảy, thái tử quả nhiên nói kệ thưa cha mẹ, xin được xuất gia:

Kính lạy bậc song thân

Đã cho con hình hài

Nay con muốn xuất gia

Mong cha mẹ thương xót.  

 

Khể thủ đại từ phụ 

Hòa nam cốt huyết mẫu

Ngã kim dục xuất gia 

Hạnh nguyện ai mẫn cố


  稽首大慈父 和南骨血母
  我今欲出家 幸願哀愍故

Ban đầu, vua và hoàng hậu không bằng lòng, nên thái tử hết lời cầu xin mới được toại nguyện. Vua bảo Sa-môn Thiền-lợi-đa xuống tóc cho thái tử. Nhưng thái tử vẫn ở lại trong cung chín năm mới gặp được thánh tăng cho Ngài thọ giới. Đêm nọ, Bồ-tát tự cảnh tỉnh mình: “Ta đã thọ giới Cụ túc mà vẫn còn ở nhà thế tục, năm  nay đã 26 tuổi rồi, làm sao gặp bậc Thánh để được khai đạo?” Ngài vừa nói xong, liền cảm ứng được ánh sáng từ hư không chiếu xuống, bỗng thấy một con đường bằng phẳng, phía trước có ngọn núi lớn, Bồ-tát liền đi đến đó……       

Chú 2: Kệ truyền pháp của Tổ thứ mười sáu phó chúc cho Tổ thứ mười bảy, thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi như sau:

                             Với pháp thực không chứng

                             Không giữ cũng không bỏ

                             Pháp không tướng hữu-vô

Làm sao có trong ngoài.  

Ư pháp thực vô chứng 

Bất thủ diệc bất ly

Pháp phi hữu vô tướng 

Nội ngoại vân hà khởi  

於法實無證 不取亦不離
    法非有無相 內外云何起

 



[1]Kim cương luân 金剛輪: Theo Luận Câu-xá (Kosa) quyển 11 thì đại địa gồm 9 núi, 8 biển và 4 châu nằm trên tầng Kim luân hay Kim cương luân; dưới vòng Kim luân là tầng Thủy luân; dưới thủy luân là tầng Phong luân và dưới phong luân là hư không. Như vậy kim cương luân tiếp giáp với đáy của tầng đại địa.  

[2]Sa-la vương娑羅王: Tên của vua Diệu Trang Nghiêm, tương lai thành Phật hiệu là Sa La Thọ Vương (Kinh Pháp Hoa, phẩm Diệu Trang Nghiêm).

[3] “Kim Hà” là một tên khác của sông Hằng (Ganga)

 




Tổ thứ 18:           TÔN GIẢ GIÀ-DA-XÁ-ĐA (Gayasata)

 

Tôn giả, Ma-đề quốc ( Magadha ) nhân. Thập thất Tổ chí kỳ quốc, kiến nhất đồng tử trì giám tháo Tổ tiền, Tổ vấn: “Nhữ kỷ tuế da?” Viết: “Bách tuế.” Tổ viết: “Nhữ niên thượng ấu, hà ngôn bách tuế?” Đồng viết: “Ngã bất hội lý, chính bách tuế nhĩ.” Tổ viết: “Nhữ thiện cơ da?” Đồng viết: “Phật ngôn: Nhược nhân sinh bách tuế, bất hội chư Phật cơ; vị nhược sanh nhất nhật, nhi đắc quyết liễu chi.” Thời văn phong xuy điện linh thanh, Tổ vấn viết: “Linh minh da? Phong minh da?” Tôn giả viết: “Phi phong linh minh, ngã tâm minh nhĩ.” Tổ viết: “Tâm phục thùy hồ?” Đáp viết: “Câu tịch tĩnh cố.” Tổ viết: “Thiện tai! Thiện tai!” phó dĩ đại pháp. Tôn giả hậu đắc Cưu-ma-la-đa (Kumarata), tức dũng thân hư không, hiện thập bát biến, Hỏa Quang tam-muội, tự phần kỳ thân.

 

Dịch:

Tôn giả người nước Ma-đề ( Magadha ). Khi đến nước này, Tổ thứ mười bảy gặp một đồng tử cầm chiếc gương đến trước Tổ. Tổ hỏi:

- Ngươi mấy tuổi rồi?

 Đứa bé trả lời:

- Một trăm tuổi.

Tổ bảo:

- Ngươi còn nhỏ sao nói một trăm tuổi?

- Tôi không hiểu lý, chính vì vậy, tôi một trăm tuổi!

Tổ hỏi:

- Ngươi giỏi tranh biện chăng?

Đứa bé đáp:

- Đức Phật nói rằng:                              

 

Người nếu sống trăm tuổi

Không lãnh hội Phật cơ

Chẳng bằng một ngày sống

Mà thấu suốt điều này.

 

Có lần, gió thổi khiến chiếc linh treo ở chánh điện phát ra tiếng kêu, Tổ hỏi:

- Linh kêu hay gió kêu?

Tôn giả thưa:

- Không phải gió cũng chẳng phải linh, mà chính tâm ta kêu?

- Tâm là ai vậy?

             - Tâm là vắng lặng.

Tổ khen :

- Lành thay, lành thay!

          Rồi truyền đại pháp cho Ngài. Sau khi độ Tôn giả Cưu-ma-la-đa (Kumarata), Ngài liền bay lên hư không, hiện mười tám phép thần biến, dùng Hỏa Quang tam-muội tự thiêu thân mình.

 

                                                Tán:

                                      Trì giám nhi lai 

                                      Tiện dữ phác phá 

                                      Phi phong phi linh 

                                      Phân minh thố quá

                                      Chư Phật chi cơ 

                                      Thị cá thậm ma? 

                                      Đắc Tăng-già- 

                                      Phản tao điếm ô[1]

                         Dịch:

Cầm gương đi đến

Liền đập vỡ gương

Không gió chẳng linh

Lầm lỗi phân minh

Cơ phong chư Phật

Đó là cái gì?

Được Tăng-già-lê

                                        Lại mang tiếng xấu.

 

                              Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

Nhất tuế bất minh bách tuế ngu 

Không quá quang âm nhật nguyệt

Phi phong phi linh ngã tâm động 

Tức lý tức cơ nhữ tự tri

Tịch tĩnh tạo hóa vô sở trụ 

Quảng đại tinh vi hữu hà tật?

Lai khứ giải thoát ly quái ngại 

Sinh tử Chân Như cánh phất câu![2]

                   Dịch:

Một tuổi chưa tường trọn kiếp ngu

Thời gian trôi mãi luống xuân thu

Không linh chẳng gió, tâm ta động

Khế lý khế cơ tự ta hay

Vắng lặng, thiên nhiên không nơi trụ

Tinh vi, rộng lớn chẳng chậm mau?

Đến, đi, giải thoát không gò bó

Sinh tử Chân Như càng chẳng buộc!      

 

Giảng:            

        Tôn giả, Ma-đề quốc nhân: Tôn giả Già-da-xá-đa, vị Tổ thứ mười tám là người nước Ma-đề ( Magadha ).

        Thập thất Tổ chí kỳ quốc, kiến nhất đồng tử trì giám tháo Tổ tiền: Lúc Tổ thứ mười bảy đến nước Ma-đề, gặp một đứa bé cầm chiếc gương đến chỗ Tổ. (Chú 1) 

Tổ vấn: “Nhữ kỷ tuế da?” Viết: “Bách tuế.”: Khi thấy đứa nhỏ, Tổ mới hỏi tuổi thì đứa nhỏ trả lời, “một trăm tuổi!” 

Tổ viết: “Nhữ niên thượng ấu, hà ngôn bách tuế?”: Tổ nói rằng, “ngươi còn nhỏ tuổi lắm, sao lại có thể một trăm tuổi được?”

         Đồng viết: “Ngã bất hội lý, chính bách tuế nhĩ”: Đứa nhỏ thưa, “bởi không hiểu rõ chân lý, nên chính vì lẽ đó mà tôi đúng là một trăm tuổi”.

Tổ viết: “Nhữ thiện cơ da?”: Tổ bảo, “ngươi giỏi về tranh biện chăng?”. “Thiện cơ” có nghĩa là giỏi biện luận.

          Đồng viết: “Phật ngôn: Nhược nhân sinh bách tuế, bất hội chư Phật cơ; vị nhược sanh nhất nhật, nhi đắc quyết liễu chi.”: Đứa bé nhắc lại lời kệ của Đức Phật, ý nói rằng nếu người ta sống trăm tuổi mà không hiểu chân lý của chư Phật – chân lý đây là đạo lý chân chánh, Phật cơ là cơ duyên chư Phật – thì chẳng bằng sống một ngày mà hiểu rõ chân lý này, tức là thấy được đạo. Nhà Nho cũng có câu nói “triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ!” có nghĩa là buổi sáng được nghe hiểu đạo lý, đến tối mà chết thì cũng coi như mãn nguyện, tự cảm thấy là xứng đáng lắm rồi! Ý tứ của câu này cũng giống như đoạn nhược sanh nhất nhật, nhi đắc quyết liễu chi” (chẳng bằng sống một ngày, thấu hiểu được điều ấy), nghĩa là hiểu rõ chân lý một cách chân chánh.

       Tổ thứ mười bảy lại hỏi: “Trong tay ngươi cầm chiếc gương, đó là biểu thị cái gì?” Đưa bé liền dùng kệ trả lời:

Chư Phật đại viên giám 

Nội ngoại vô hà ế

Lưỡng nhân đồng đắc kiến 

Tâm nhãn giai tương tự[3]

                             Dịch:

Gương sáng của chư Phật

Trong ngoài không tỳ vết

Hai người đồng thấy hết

Mắt tâm cùng giống nhau

 

          Bấy giờ, sau khi được nghe mấy lời này, cha mẹ Tôn giả liền chịu ngay cho Ngài xuất gia theo Tổ thứ mười bảy. Sau khi đã xuất gia, Thời văn phong xuy điện linh thanh: nghĩa là một hôm, có làn gió thổi lay động chiếc linh trên điện phát ra tiếng kêu.

         Tổ vấn viết: “Linh minh da? Phong minh da?”: Tổ thứ mười bảy hỏi đứa bé: “Đó là tiếng kêu của linh hay của gió?”

Tôn giả viết: “Phi phong linh minh, ngã tâm minh nhĩ.”: Đứa bé liền nói: “Đó không phải là tiếng kêu của gió, cũng không phải là tiếng kêu của linh, mà chính là âm thanh trong tâm chúng ta”. Trong Lục Tổ Đàn Kinh có ghi câu chuyện “gió thổi phướn động” và khi ấy có người hỏi: “Gió động hay phướn động?” Quý vị thì nghĩ thế nào đây? Bảo là gió động ư? Nhưng mà ở đó thấy lá phướn động. Còn bảo là lá phướn động, nhưng không có gió thì phướn động làm sao được? Quý vị bảo gió động, nhưng gió thì chẳng thấy mà chỉ thấy phướn động, khiến cho có hai vị sư, một vị nói gió động, còn một vị nói phướn động, cãi nhau mãi không thôi. Lúc ấy Lục Tổ mới lên tiếng bảo rằng “không phải gió động, không phải phướn động, mà do tâm của nhân giả động”. Tổ thứ mười tám thì nói: “Không phải tiếng gió kêu, cũng không phải tiếng linh kêu, mà do tâm nhân giả phân biệt! Vì vậy mới có tiếng gió và tiếng linh”.

Tổ viết: “Tâm phục thùy hồ?”: Tổ thứ mười bảy nói: “Tâm này là ai vậy? Ai là cái tâm này vậy?”

Đáp viết: “Câu tịch tĩnh cố.”: Đưa bé trả lời: “Tâm là vắng lặng, không có hình tướng”.

         Tổ viết: “Thiện tai! Thiện tai!” phó dĩ đại pháp: Nghe đứa bé nói tâm là vắng lặng như thế, Tổ thứ mười bảy biết ngay đứa bé hiểu rõ lý tâm không động, không tĩnh, nên nói: “Rất tốt, rất tốt!”. Thế là, Tổ truyền pháp dùng tâm ấn tâm, Chánh Pháp Nhãn Tạng, giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự cho Ngài. (Chú 2)  

Tôn giả hậu đắc Cưu-ma-la-đa (Kumarata), tức dũng thân hư không, hiện thập bát biến, Hỏa Quang tam-muội, tự phần kỳ thân: Sau khi truyền pháp cho Tôn giả Cưu-ma-la-đa (Kumarata), Tôn giả liền bay lên hư không, hiện thần thông của mười tám thứ thần biến như: Trên thân ra lửa, dưới thân ra nước; dưới thân ra lửa, trên thân ra nước v.v…ở giữa hư không. Hiện rõ thần thông của mười tám thần biến qua lại lẫn nhau, rồi dùng Hỏa Quang tam-muội và lửa thiền định tự thiêu thân mình.

 

Tán

         Trì giám nhi lai, tiện dữ phác phá: Ngài cầm một chiếc gương đi đến, Tổ thứ mười bảy liền đập vỡ gương.

         Phi phong phi linh, phân minh thác quá: Không phải gió, cũng không phải linh phát ra tiếng động, nếu quý vị có tâm phân biệt thì sẽ hiểu sai đạo lý này.

         Chư Phật chi cơ, thị cá thậm ma?: Chân lý của chư Phật, thật ra là cái gì?

          Đắc Tăng-già-lê[4], phản tao điếm ô: Ông được xuất gia mặc áo của chư Tổ, cũng chính là ông đã đạt được Diệu Pháp Tâm Ấn này, không cần trên đầu lại đặt thêm một cái đầu và chạy theo bên ngoài tìm kiếm! Phản tao điếm ô, nếu ông chạy theo bên ngoài tìm kiếm thì chính ông tự làm dơ uế mình.

                                     

Kệ

 Phật, chư Tổ và các vị Bồ-tát vốn không cần chúng ta xưng tán các Ngài, cũng như không cần chúng ta mang một cái mũ thật cao đội lên đầu  (nịnh hót) các Ngài đâu. Chẳng qua, vì lòng ngưỡng mộ trước đạo đức, văn chương cùng những hành vi vĩ đại của các Ngài nên hàng đệ tử, đệ tôn đời sau mới tự nguyện gom góp một vài lời mộc mạc đặng tỏ tấm lòng tán dương công đức của các vị Tổ sư. Có thể các Ngài chẳng lấy gì làm hoan hỷ khi nghe lời tán thán của chúng ta, nhưng là kẻ hậu bối, muốn dâng lên chút điểm chân thành, chút lòng kính ngưỡng sùng bái thánh nhân xưa, chúng ta đành phải gắng gượng làm mấy câu thô thiển gọi là tán thán các bậc thánh hiền.

Đây là câu đầu tiên của bài tụng kệ:

Nhất tuế bất minh bách tuế ngu: Vì sao đứa bé này nói một trăm tuổi? Bởi vì nó không hiểu. Nó lại không hiểu pháp môn Tâm ấn của vị Tổ này, nên nói mình một trăm tuổi. 

          Đây không phải là trường hợp một đứa trẻ nói dối, rõ ràng không phải một trăm tuổi, lại dối người khác nói là trăm tuổi. Đứa bé biết nói như vậy, người khác sẽ không tin, nhưng tại sao lại nói như thế? Chính vì đứa bé muốn tỏ bầy rõ là mình không hiểu Phật pháp một cách chân chính, một tuổi mà không hiểu rõ thì một trăm tuổi vẫn là ngu si.

Không quá quang âm nhật nguyệt hư: Đây chính là nói thời gian luống qua mà không đạt được chút gì. Một ngày từ sáng đến chiều chỉ có ăn mặc ngủ nghỉ, ăn mặc ngủ nghỉ, ăn mặc ngủ nghỉ, ngoài ra không làm được việc gì, không có một chút công lao với thế giới này, vì thế ngày tháng trôi qua đều trống rỗng. 

Phi phong phi linh ngã tâm động: Đây không phải tiếng gió, cũng không phải tiếng linh, mà do tâm ta phân biệt, nên mới nghe tiếng của nó.

Tức lý tức cơ nhữ tự tri: Nếu khế lý khế cơ thì chính mình tự biết. Đạo lý chân chính rõ ràng, chính là khế lý khế cơ. Vì vậy khế hợp hay không khế hợp với căn cơ của mình, chỉ tự mình biết.

         Tịch tĩnh tạo hóa vô sở trụ: là sự an vui trong cảnh giới tịch tĩnh, cũng là của Đại Tạo Đại Hóa, đều không chỗ trụ, theo nghĩa của câu “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm.[5] 

 

Quảng đại tinh vi hữu hà tật?: Rất rộng lớn và tinh vi, đó là bản thể của đạo, nó có gì nhanh hay chậm? Hoàn toàn không có.

Lai khứ giải thoát ly quái ngại: Đến đi tùy ý, không chút ngăn ngại.

          Sinh tử Chân Như cánh phất câu!: Sống cũng vậy, chết cũng vậy,  chứng được lý thể của chân như cũng vậy, chẵng có gì là gò bó, chẳng có điều gì chướng ngại, hoàn toàn tự nhiên.

Kệ tụng hôm nay là như vậy. Nếu tôi làm không hay, mọi người thay tôi chỉnh sửa một chút, còn hay thì quý vị nên y chiếu theo. 

(Tuyên Công Thưng Nhân giảng ngày 12 tháng 8 năm 1981)

 


Chú 1: Truyền Pháp Chánh Tông Ký có ghi:

Tôn giả Già-da-xá-đa, người nước Ma-đề (Magadha), họ Uất-đầu-lam (Udra Ramaputra), cha là Thiên Cái, mẹ là Phương Thánh. Lúc mẹ Tôn giả mang thai, mộng thấy có người cầm một chiếc gương báu đến nói: “Tôi đã đến!”. Lúc tỉnh dậy bà cảm thấy nhẹ nhàng như ngày thường, nhưng khắp nhà có mùi hương lạ, ánh sáng lành luôn xuất hiện, bảy ngày sau thì Tôn giả chào đời. Thân thể Ngài sạch sẽ sáng chói như lưu ly trong suốt. Đến năm mười hai tuổi, Tôn giả không cần tắm rửa mà vẫn sạch sẽ. Ngài thường ở chỗ vắng vẻ, hoặc trò chuyện với mọi người, nói ra những lời cao siêu.

Chú 2: Kệ tuyền pháp của Tổ thứ mười bảy phó chúc cho Tổ thứ mười tám thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi:

Tâm địa bổn vô sinh[6] 

Nhân địa tùng duyên khởi

Duyên chủng bất tương phương 

Hoa quả diệc phúc nhĩ[7]

 

                   Dịch:

Tâm vốn dĩ không sinh

Nhân từ duyên mà khởi

Duyên và chủng (hạt gieo, seed = nhân) không ngại nhau

Hoa quả cũng như vậy.



[1] Nguyên văn:    持鑑而來 便與撲破 非風非鈴 分明錯過

諸佛之機 是個甚麼 得僧伽黎 反遭玷污

[2] Nguyên văn:    一歲不明百歲愚 空過光陰日月虛

非風非鈴我心動 即理即機汝自知
寂靜造化無所住 廣大精微有何疾
來去解脫離罣礙 生死真如更弗拘

[3] Nguyên văn: 諸佛大圓鑑 內外無瑕翳

兩人同得見 心眼皆相似

           

[4] Tăng-già-lê 僧伽黎  Phạm: Sanghati, dịch là Tổ y.

[5]大造大化: Thuật ngữ Đại Tạo Đại Hóa thường thấy trong các kinh về Đạo học, dùng để chỉ cái nguyên lý tột cùng của lẽ Đạo. Người tu luyện tinh khí thần sẽ đạt được lẽ đó khi Pháp thân trở về với hư vô, một cảnh giới đại thanh tịnh, đại giải thoát. Cùng với nghĩa này, Đại Tạo Đại Hóa trong bài giảng thoại, cũng chính là cảnh giới tột cùng khi người tham thiền bừng ngộ, chứng được bổn lai diện mục của mình. Đó cũng là cảnh giới của niềm tịch tĩnh, của trạm nhiên thường tịch, cảnh giới của tâm vô sở trụ.

 

[6] Nguyên văn: 心地本無生 因地從緣起

緣種不相妨 華果亦復爾

 

[7] Đạo lý “nhân quả đồng thời” nói trong Kinh Pháp Hoa. Vì hoa sen vừa nở, liền có hạt sen nên gọi là “nhân quả đồng thời”. Hoa nở liền kết thành hạt, biểu thị cho “nhân quả không hai”; nhân cũng chính là quả, quả cũng chính là nhân, nhân như vậy, quả như vậy. “Nhân” là gieo trồng nhân Phật, “quả” là thành tựu quả Phật. Hoa quả đồng thời, cũng biểu thị cho “khai quyền hiển thật” (triển khai phương tiện để hiển bày lý chân thật). Hoa sen nở là “khai quyền”; quyền, chính là phương tiện quyền xảo. Kết thành hạt là “hiển thật”, đại diện cho pháp chân thật; thật, là pháp chân thật không dối, đó chính là bản thể lý tánh của thật tướng.     

 




THẬP CỬU TỔ  CƯU-MA-LA-ĐA TÔN GIẢ

 

Tôn giả Đại Nhục Chi quốc nhân. Nhân thập bát Tổ chí, tôn giả vấn viết: “Thị hà đồ chúng?” Tổ viết: “Thị Phật đệ tử.” Bỉ văn Phật hiệu, tâm thần tủng nhiên, tức thời bế hộ. Tổ lương cửu khấu kỳ môn, tôn giả viết: “Thử xá vô nhân.” Tổ viết: “Đáp vô giả thùy?” Tôn giả văn ngữ, tri kỳ dị nhân, toại khai quan diên tiếp. Tổ viết: “Tích Thế Tôn ký viết: ‘Diệt hậu nhất thiên niên, hữu Đại sĩ xuất hiện ư Nhục Chi quốc, thiệu long huyền hóa.’ Kim nhữ trị ngã, ưng tư gia vận.” Ư thị xuất gia thọ cụ, phó dĩ đại pháp. Tôn giả đắc pháp dĩ, hậu đắc Xà-dạ-đa, tức ư tọa thượng, dĩ chỉ trảo ly diện, như hồng liên khai, phóng đại quang minh, chiếu diệu tứ chúng, nhi nhập tịch diệt.

 

Tôn giả người nước Đại Nhục Chi, khi Tổ thứ mười tám đến, Tôn giả hỏi:

- Thưa Ngài! Ngài là đệ tử của ai?

Tổ đáp:

- Là đệ tử của Đức Phật.

Nghe danh hiệu Đức Phật, Tôn giả sợ hãi lập tức đóng cửa lại. Tổ gõ cửa hồi lâu, Tôn giả bảo:

- Trong nhà không có người !

Tổ hỏi:

- Vậy người trả lời “không” trong nhà là ai?.

Nghe nói, Tôn giả biết đây là bậc xuất phàm liền mở cửa đón tiếp. Tổ bảo:

- Xưa, Đức Thế Tôn thụ ký: “Một nghìn năm sau khi ta diệt độ, có bậc đại sĩ sẽ xuất hiện ở nước Nhục Chi nối truyền chính pháp”. Nay ông gặp ta thật ứng nghiệm với vận tốt này.

Thế là Tôn giả xuất gia, được Tổ truyền giới cụ túc và đại pháp. Sau khi đắc pháp và độ Xà-dạ-đa, Tôn giả ngồi trên toà dùng móng tay rạch mặt thành hình hoa sen nở, phóng ánh sáng chiếu khắp bốn chúng rồi nhập diệt.

Tán :

                          Văn Phật bế môn

                           Thả tín nhất bán

                           Thử xá vô nhân

                           Bão tàng tặc hán

                           Thuyết pháp Phạm thiên

                           Môi lý tẩy thán

                           Ký biệt tương lai

                           Tuệ mạng nhất tuyến[1]

 

 Dịch :                         

Nghe Phật đóng cửa

Chỉ tin một nửa

Nhà này không người

Tên trộm lẫn trốn

Thuyết pháp Phạm thiên

Than đá sạch đen

Thụ ký tương lai

Huệ mạng sợi tơ 

 

       Kệ :

Thử xá vô nhân hữu tặc hán

Tâm hành xứ diệt ngôn ngữ đoạn

Đáp giả thị thùy ngô nan giải

Ứng chi phi ngã nhữ nghi tri

Thiên niên Đại sĩ xuất Nhục Chi

Vạn kiếp Pháp Vương ký nhật tiên

Hồng liên khai phóng chiếu tứ chúng

Thập cửu đại Tổ hóa nữ nam[2]


       Dịch:

Trong nhà có chủ lại bảo không

Ngôn ngữ tâm hành bặt dứt đồng

Kẻ đáp là ai ta chẳngrõ

Đáp đó chẳng tôi, ông phải hiểu

Nghìn năm đại sĩ Nhục Chi hiện

Vạn kiếp Như Lai thụ ký ông

Nở đoá sen hồng soi bốn chúng

Tổ đời mười chín độ rất đông.

                          Tuyên Công Thượng Nhân

Giảng:

Tôn giả, Đại Nhục Chi quốc nhân: Tổ thứ mười chín là tôn giả Cưu-ma-la-đa. Vị Tôn giả này vừa nghe đến một tiếng “Phật” thì vô cùng sợ hãi. Ngài thuộc dòng bà-la-môn ở nước Đại Nhục Chi, thuộc Ấn Độ.  

Nhân thập bát Tổ chí: Đúng lúc Tổ thứ mười tám đến nước Đại Nhục Chi, thấy trong nhà bà-la-môn có thần khí khác thường, nên nhắm nhà tìm đến.

Tôn giả vấn viết: “Thị hà đồ chúng?” Tôn giả Cưu-ma-la hỏi Tổ thứ mười tám: “Ông thuộc tôn giáo nào? Từ đâu đến đây?”

Tổ viết: “Thị Phật đệ tử.”: Tổ thứ mười tám trả lời:  “Ta là đệ tử của Đức Phật!”.

Bỉ văn Phật hiệu, tâm thần tủng nhiên, tức thời bế hộ: Vừa nghe đến danh từ Phật, Tôn giả Cưu-ma-la trong lòng sợ hãi vội đóng cửa lại.

Tổ lương cửu khấu kỳ môn: Tổ thứ mười tám đợi ngoài cửa rất lâu mới gõ cửa nhà Tôn giả.

Tôn giả viết: “Thử xá vô nhân.”: Tôn giả ở trong nhà nói:  “Trong nhà này không có người!”

         Tổ viết: “Đáp vô giả thùy?” :Tổ mới hỏi kẻ nào vừa trả lời câu “không có người”? Kẻ đó là ai? Kẻ đó là cái gì, là quỷ, là yêu quái chăng? Tôn giả không biết phúc đáp ra sao câu hỏi của Tổ.   

       Đã nói là không có ai cả mà sao lại có kẻ trả lời câu “không có người?” Vậy là nghĩa lý gì đây !

Tôn giả văn ngữ, tri kỳ dị nhân, toại khai quan diên tiếp: Nghe xong câu hỏi của người đứng bên ngoài cửa, tôn giả biết rằng người đó chẳng phải là kẻ tầm thường, nên mở cửa ra và lúc đó mời Tổ thứ mười tám vào nhà.

Tổ viết: “Tích Thế Tôn ký viết: ‘Diệt hậu nhất thiên niên, hữu Đại sĩ xuất hiện ư Nhục Chi quốc, thiệu long huyền hóa :Tổ thứ mười tám nói: “ Năm xưa, khi còn tại thế, Đức Thế Tôn đã từng thọ ký rằng một nghìn năm sau khi Phật diệt độ, sẽ có một vị đại bồ-tát xuất hiện ở nước Nhục Chi, tiếp tục làm hưng thịnh giáo pháp huyền diệu này”. “Kim nhữ trị ngã, ưng tư gia vận.”: Nay ông gặp ta đây, nên hiểu là đúng với lời thụ kí đó.” Chữ “ưng” là nên, nên như vậy. “Gia vận” nghĩa là vận lành, ngụ ý nói lời thụ ký trên là một vận hội tốt lành. Ư thị xuất gia thọ cụ, phó dĩ đại pháp: Thế là tôn giả Cưu-ma-la-đa xuất gia, được Tổ cho thụ giới cụ túc và truyền diệu pháp tâm ấn này.(chú1) 

Tôn giả đắc pháp dĩ, hậu đắc Xà-dạ-đa: Về sau, khi đã đắc pháp, Tổ gặp và độ tôn giả Xà-dạ-đa trở thành Tổ thứ hai mươi. Tức ư tọa thượng, dĩ chỉ trảo ly diện, như hồng liên khai, phóng đại quang minh, chiếu diệu tứ chúng, nhi nhập tịch diệt: Sau khi truyền pháp, Tôn giả ngồi trên tòa dùng móng tay vẽ lên mặt mình thành hình hoa sen nở, lại phóng ánh sáng rực rỡ chiếu khắp bốn chúng đệ tử, tức là các tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, sau đó nhập diệt. 

                                                Bài tán:

         Văn Phật bế môn,  thả tín nhất bán: Vừa nghe một tiếng Phật, Tôn giả sợ hãi vội đóng cửa lại. Nói không tin cũng không đúng mà chỉ tin một nữa.

          Thử xá vô nhân, bão tàng tặc hán: Trong nhà này không có người, nhưng có một tên trộm lẫn trốn.

         Thuyết pháp Phạm thiên, môi lý tẩy thán: Trong một kiếp xưa Tổ thứ mười chín đã từng thuyết pháp trên trời Phạm thiên (chú 2).

 Gọi là pháp nhưng kỳ thực không có pháp nào có thể nói ra được, nói đi nói lại, nói mà chưa nói, ví như “môi lý tẩy thán ”, nghĩa là rửa sạch than củi trên lớp than đá. Quý vị thấy mầu than mỏ là mầu đen, than củi cũng màu đen, tẩy đi tẩy lại cuối cùng vẫn là màu đen mà thôi.

Ký biệt tương lai, tuệ mạng nhất tuyến: Xưa Đức Phật thụ kí rằng một nghìn năm sau, Tôn giả sẽ là người tiếp nối huệ mạng Phật pháp. “Tuệ mạng nhất tuyến”  là ý nói pháp môn truyền tâm ấn có thể ví như sợi chỉ treo, nó rất là vi tế.

 

                             Kệ rằng 

Thử xá vô nhân hữu tặc hán: Nói trong nhà này không có người, vì không có người nên kẻ trộm đến, vậy đúng là có một tên trộm. Ông không phải kẻ trộm thì là gì chứ? Rõ ràng Ngài ở trong nhà mà nói dối là không có người, như thế đó thì không phải muốn làm kẻ trộm thì làm cái gì?

     Tâm hành xứ diệt ngôn ngữ đoạn: Nhưng lúc này, Ngài muốn trốn cũng không có chỗ để trốn, muốn lánh cũng không có chỗ để lánh; tâm không chỗ đi, tâm bị tắt lối, còn nói năng (ngôn ngữ) cũng không biết nói như thế nào là phải! Chỉ vì lý do tôn giả không biết trả lời ra sao câu hỏi của Tổ, tức là câu “người đáp là ai”.

      Đáp giả thị thùy ngô nan giải: Câu kệ này nói thay cho Tổ. Tổ thứ mười tám hỏi tôn giả: “ Kẻ trả lời “không” đó là ai vậy? Điều này ta không hiểu.”

       Ứng chi phi ngã nhữ nghi tri: Ông ở đâu mà nói “đó không phải là lời nói của tôi”, ở trong phòng lại nói “ở đây không có ai”, vậy đó không phải là tôi sao? ‘Nhữ nghi tri’, tự ông phải biết ông là ai chứ? Câu hỏi này lại tiến thêm một bước nữa, giúp cho tôn giả thức tỉnh đó! Cho nên câu sau đây có nói ---

    Thiên niên Đại sĩ xuất Nhục Chi: Xưa kia Đức Phật đã  nói trước về vụ này. Theo lời thụ kí thì sau khi Đức Phật diệt độ một nghìn năm, có vị đại bồ-tát xuất hiện ở nước Nhục Chi, hẳn là ứng vào ông đó!

        Vạn kiếp Pháp Vương ký nhật tiên: Vạn kiếp về sau, ông sẽ là người nối pháp, làm Pháp Vương, một vị chúa thuyết pháp, và truyền pháp tâm ấn. Lời thụ kí này do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni sớm đã nói một nghìn năm trước, nên mới nói là “ký nhật tiên”.

    Nở đoá sen hồng soi bốn chúng: Hoa sen hồng nở trên mặt của Ngài, soi sáng bốn chúng đệ tử tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.

    Hồng liên khai phóng chiếu tứ chúng: Tổ thứ mưới chín giáo hóa chúng đông vô số.

                             (Tuyên công thượng nhân giảng ngày 22, tháng 8, năm 1981) 

 


    Chú 1: Kệ truyền pháp của Tổ thứ mười tám phó chúc cho Tổ thứ mười chín, trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi:

Hữu chủng hữu tâm địa

Nhân duyên năng phát manh

Ư duyên bất tương ngại

Đương sinh sinh bất sinh[3]

           Dịch :

Có giống và đất tâm

Đủ duyên sẽ nãy mầm

Duyên không ngăn ngại nhau

 Nên có sinh không sinh
  

          Chú 2: Quyển hai Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ghi: Tổ thứ mười chín Cưu-ma-la-đa là con của một bà-la-môn ở nước Đại Nhục Chi. Kiếp xưa ở trên tầng trời Tự Tại (tầng trời thứ sáu của Dục giới),nhưng vì đã khởi tâm ái khi nhác thấy chuỗi anh lạc của bồ-tát, nên đọa xuống trời Đao-lợi (tầng trời thứ hai của Dục giới). Nghe Kiều- thi-ca[4] nói kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, nhờ  pháp thù thắng, Ngài được sinh lên Phạm thiên (Sắc giới). Nhờ căn tính linh lợi và giỏi thuyết pháp nên, chư thiên tôn Ngài làm thầy. Đến thời kế thừa chư Tổ, Ngài giáng sinh vào nước Nhục Chi.

 



[1]聞佛閉門 且信一半 此舍無人 抱臧賊漢
說法梵天 煤裏洗炭 記莂將來 慧命一線

 

[2]此舍無人有賊漢 心行處滅言語斷
答者是誰吾難解 應之非我汝宜知
千年大士出月氏 萬劫法王記日先
紅蓮開放照四眾 十九代祖化女男

 

[3] Nguyên văn :有種有心地 因緣能發萌
           於緣不相礙 當生生不生

 

[4]Kiều- thi-ca  憍尸迦: họ của Thích-đề-hoàn nhân khi còn làm người.