Sân Hận và Nhẫn Nhục


Nguyễn Đức Lâm, Win Visions, Aug 25, 2005

 
Tôi còn nhớ đã đọc câu chuyện sau đây về cuộc đời Đức Phật do Đạo sư OSHO kể lại trong một bài thuyết giảng của Ông về thói quen phản ứng của con người:


Một hôm Đức Phật đang thuyết pháp thì có người đến và nhổ vào mặt Ngái, Ngài lau mặt và hỏi người ấy: “Còn gì nữa không? Ông còn gì để nói không?” Người đó vô cùng sửng sốt vì không thể ngờ đựơc có một người như thế, bị mình nhổ vào mặt và vẫn bình tĩnh hỏi lại: “Còn gì nữa không?. Ông ta không hề kinh nghiệm như thế bao giờ. Thường thì người bị chửi lồng lộn lên và chửi lại. Hoặc nếu là người nhát gan hay yếu đuối thì người ấy sẽ mỉm cười và năn nỉ. Nhưng Đức Phật khác hẳn. Ngài không tức giận, không cảm thấy bị sỉ nhục, mà cũng không hèn nhát. Nhưng Ngài hỏi một cách thản nhiên, “Còn gì nữa không?” Đó không phải là một phản ứng.

Nhưng các đệ tử của Ngài thì nổi cơn điên. Họ phản ứng lại. Đại đệ tử của Ngài là Ananda nói, “Tên kia hỗn láo thật, và chúng con chịu hết nổi rồi. Chúng con không muốn đếm xỉa đến giáo huấn của Thầy nữa, và chúng con muốn dạy cho hắn một bài học là không phải hắn muốn làm gì thì làm. Hắn cần phải bị trừng trị. Bằng không thì ai cũng có thể làm được như thế.”

Đức Phật nói, “Đừng nói nữa. Hắn có nhục mạ ta đâu! Nhưng con đã nhục mạ ta. Nó từ xa tới, hoàn toàn xa lạ. Chắc là hắn nghe nhiều người đàm tiếu về ta rằng, “Ta là một người vô thần, một người nguy hiểm đã đầu độc đầu óc con người, một tên phản động, đồi phong bại tục.” Có lẽ vậy nên hắn mới có ý tưởng không tốt về ta. Hắn không nhổ vào mặt ta, mà nhổ vào cái ý tưởng ấy, nhổ vào cái ý tưởng của hắn về ta bởi vì hắn có biết rõ về ta đâu nên sao hắn có thể nhổ vào ta được?”

“Nếu suy nghĩ cho kỹ”, Đức Phật nói, “thì hắn đã nhổ vào chính tâm trí của hắn. Ta không dự phần trong đó, và ta nhận thấy rằng con người đáng thương ấy còn muốn nói thêm nữa, bởi vì đó là một cách để nói - nhổ là một cách để nói gì đó. Có nhiều lúc ta cảm thấy ngôn ngữ không thích hợp - chẳng hạn trong tình yêu, khi nóng giận, khi hận thù, khi cầu nguyện. Có những khoảnh khắc nóng bỏng mà trong đó ngôn ngữ bất lực. Lúc đó chỉ có hành động mới thích ứng. Khi yêu điên cuồng ta hôn, hoặc ôm chặt lấy người yêu, thì ta làm gì thế? Ta muốn nói gì đó. Khi tức giận, khi giận điên lên được thì ta đánh, ta nhổ vào mặt người khác. Ta muốn nói gì đó qua hành động ấy. Ta hiểu rõ hắn lắm. Có lẽ hắn còn muốn nói thêm nữa nên ta mới hỏi, “Còn gì nữa không?”

Người ấy chưa hết kinh ngạc thì Đức Phật nói với chúng đệ tử rằng, “Ta giận các ngươi hơn. Các ngươi biết rõ về ta, đã ở với ta nhiều năm mà vẫn phản ứng như thế.”

Bối rối và lung túng, người ấy trở về, trằn trọc cả đêm. Khi đã gặp một vị phật thì bạn rất khó mà ngủ yên được như từ trước. Ông ta bị dằn vặt về chuyện ấy. Ông ta không hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Ông ta run rẩy mồ hôi dầm dìa. Chưa bao giờ ông ta gặp một người lạ lùng như thế; ông ta bị khủng hoảng, thần trí bị đảo lộn hết trơn.

Sáng hôm sau ông ta trở lại và qùy xuống dưới chân Đức Phật. Ngài hỏi ông ta, “Ông còn gì để nói nữa không?. Ông đã nói những gì mà ngôn ngữ không thể nói được. Khi đến quỳ dưới chân Ngài ông đã nói những điều mà ngôn ngữ bình thường không thể diễn tả được, những cái mà ngôn ngữ rất nghèo nàn; ông không thể nói được những gì ông muốn nói”. Đức Phật quay lại nói với Ananda, “Này Ananda. Ông ấy lại đến. Ông ấy là người có nhiều cảm xúc. Ông ấy không nói gì nhưng đã nói tất cả.”

Người ấy nhìn Đức Phật và nói, “Xin Ngài hãy tha thứ cho con. Xin tha lỗi cho những chuyện con đã làm ngày hôm qua.”

Đức Phật nói, “Tha thứ? Nhưng ta không phải là người mà ông nhổ vào mặt ngày hôm qua. Bao nhiêu là nước sông Hằng đã chảy qua; nó không phải là sông Hằng ngày hôm qua. Mỗi người là một dòng sông. Người mà ông đã nhổ vào mặt không còn nữa. Ta trông giống người ấy, nhưng ta đã khác rồi; nhiều chuyện đã xảy ra trong hai mươi bốn giờ qua! Nhiều nước đã chảy qua cầu. Ta không thể tha thứ cho ông bởi vì ta chẳng oán hờn gì ông cả.”

“Và ông là người mới đến. Ta có thể thấy được rằng ông không phải là người đã đến đây hôm qua, bởi vì người ấy vô cùng giận dữ. Ông ta đã nhổ vào mặt ta. Còn ông thì qùy dưới chân ta. Sao ông có thể là người ấy được! Ông không phải là người đó. Vậy hãy quên đi.Hai người ấy - người bị nhổ và người nhổ - cả hai đã không còn nữa. Hãy đến gần dây. Hãy nói về chuyện khác.” (1)

Câu chuyện kể trên đối với tôi thật là thích thú và khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi đã kể lại chuyện này cho những người thân trong gia đình và bằng hữu nghe trong những khi mạn đàm về cuộc sống vì câu chuyện này đã cho tôi thấy một số điều thật là ý nghĩa:

Điều thứ nhất là qua cuộc đối thoại giữa Đức Phật và người đàn ông kia, Ngài đã vạch ra cho ông ta thấy tính cách vô thường và sinh động của cuộc đời: “Bao nhiêu là nước sông Hằng đã chảy qua; nó không phải là sông Hằng ngày hôm qua. Mỗi người là một dòng sông.. nhiều chuyện đã xảy ra trong hai mươi bốn giờ qua!”

Điều thứ hai là dù có tu hành, nhưng nếu chưa giác ngộ thì con người dù là đệ tử hay đại đệ tử của Đức Phật như Ananda vẫn còn đầy lòng sân hận và thói quen phản ứng.

Điều cuối cùng là đối với cùng một sự viêc “một người đàn ông lạ nhổ vào mặt Đức Phật trong lúc Ngài đang thuyết pháp”, tôi thấy có hai thái độ khác nhau rõ rệt:

Một bên là các đệ tử của Đức Phật, trong số dó có Ananda, một đại đệ tử của Ngài. Họ “nổi cơn điên”. Đây là loại phản ứng của đại đa số mà chúng ta thường nghe kể lại hoặc mục kích trong đời sống hàng ngày.

Một bên là Đức Phật. Ngài đã tỏ ra rất bình thản trước hành động sỉ nhục của người đàn ông kia. Đã lắng nghe Ông ta với tâm từ bi. Ngài đã lập tức yêu cầu Ananada “Đừng nói nữa” vì Ngài không cảm thấy người đàn ông lạ kia nhục mạ Ngài. Trái lại Ngài “nhận thấy rằng con người đáng thương ấy còn muốn nói thêm nữa” . Ngài nói “Ta hiểu rõ hắn lắm. Có lẽ hắn còn muốn nói thêm gì nữa nên ta mới hỏi “còn gì nữa không?”. Thái dộ của Đức Phật, cách hành xử của Ngài theo đại sư OSHO là đáp ứng chú không phải là phản ứng. (2)

Kết quả là gì? Kết qủa là người đàn ông kia đã “bối rối”, đã “trằn trọc cả đêm”. Ông ta đã bị “dằn vặt” vì chuỵện nhổ vào mặt Đức Phật. Ông ta bị “khủng hoảng” đến độ “thần trí bị đảo lộn hết trơn”. Cuối cùng, “sáng hôm sau, ông ta trở lại và qúy dưới chân Đức Phật “ và xin Ngài tha thứ. Như vậy Ngài đã cảm hóa được người đàn ông kia.

Ngược lại, giả thử nếu để mặc cho Ananda và các đệ tử Đức Phật phản ứng theo ý muốn thì hậu qủa thật khó lường. Người lạ mặt kia có thể bị hành hung và bi thương vong, rồi những người thân hoặc bằng hữu của Ông ta sẽ có hành động trả thù và cứ như thế oán thù chồng chất liên miên như vẫn thường xảy ra giữa các cá nhân, phe nhóm, sắc tộc, quốc gia, chủng tộc và tệ hại hơn nữa giữa các tôn giáo từ xưa đến giờ! Người ta đã nhân danh những điều cao đẹp, những mỹ từ như “trung, hiếu, tình, nghĩa, v.v.” để đeo đuổi những “mối thù truyền kiếp”, những “mối hận ngàn đời” để rồi “hận tình mang xuống tuyền đài khôn nguôi” vì hận thù chẳng bao giờ hết cả.

Đại sư OSHO giải thích rằng thái độ của các đệ tử của Đức Phật là một phản ứng theo “thói quen trong qúa khứ”, “theo tâm trí”.

Ngược lại, đáp ứng không tùy thuộc vào kinh nghiệm hay thói quen trong qúa khứ mà tùy thuộc vào sự nhạy cảm đối với hiện tại. “Đáp ứng là hoàn toàn sống động trong từng khoảnh khắc, tại đây và ngay bây giờ.” (3)

Đáp ứng là thái độ của người không còn ngã chấp, có lòng bình thản, tâm từ bi và hạnh nhẫn nhục cao thâm.

Trong đời sống hàng ngày, Người biết đáp ứng như Đức Phật, một bậc toàn thiện, toàn giác. đại từ, đại bi, hỏi có dược bao nhiêu!

Khi bị sỉ nhục hoặc thấy người mình kính trọng và yêu qúy bị sỉ nhục, những người có phản ứng nổi điên và giận dữ như các đệ tử của Đức Phật từ xưa đến nay nhiều vô số kể.

Nếu truy nguyên nguồn gốc của phản ứng giận dữ trong các kinh tạng của Phật giáo thì ta thấy phản ứng giận dữ là do sân hận mà ra .(4)

Theo Ngài Nina Van Gorkum thì trong tạng Luật (Đại phẩm – Mahavagga X. 349) Đức Phật đã dạy cho các tỳ khưu là:“hận thù không làm lắng dịu được hận thù. Ở đây và bất cứ lúc nào, không hân thù mới làm lắng dịu được hận thù: đây là định luật vĩnh cửu” (5)

Tăng Chi Bộ Kinh (Pháp 7 chi, chương 6, kinh số 10 ) có ghi lại rằng khi giảng cho các Tỳ Khưu về các hậu qủa của sân hận, Đức Phật đã đưa ra thí dụ như sau:

Có những người vì sân hận mà mong kẻ thù của mình “khó ngủ” hoặc “mất ăn mất ngủ”, thì “… hạng người này sân hận, bị sân hận chinh phục, bị sân hận chi phối và dù người ấy nằm trên giường có chăn êm nệm ấm, đấy đủ tiện nghi ăn ngủ nhưng người đó nằm thao thức trong niềm đau nỗi khổ do sân hận hành hạ.” (6)
Khi nói về hậu qủa của sự giận dữ, tác phẩm Hành Hạnh Bồ Tát có ghi mấy câu:

Bao nhiêu công đức tốt đẹp
Tích lũy trong một ngàn kiếp
Như bố thí, cúng dường chư Phật
Tất cả đều tiêu tan trong một cơn giận dữ (7)

Ngài Chandrakirti (tiếng Việt dịch là Nguyên Xứng) khi giảng về hậu qủa của sân hận cũng nói:

Khi bạn nổi sân với những Pháp tử của Phật
Là bạn phá hủy trong giây lát
Tất cả đức hạnh tích lũy trên một trăm kiếp.
Bởi thế không có tội nào tệ hơn là sự mất kiên nhẫn (8)

Trong cuốn, “The Way to Freedom” (Hướng Đến Con Đường Giải Thoát), Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về lý do tại sao chúng ta không nên giận dữ và sân hận:

“Khi có người nào hãm hại bạn, bạn chớ nên cáu giận và trả thù, mà hãy tri nhận rằng kẻ kia không tự kềm hãm được tình cảm của họ. Người đó chẳng làm như vậy ví cố ý mà chỉ vì bị ảnh hưởng bởi những tình tự tiêu cực đó thôi. Nguyên do chánh yếu khi nào người đó sân tức và hãm hại bạn là vì y không ngừng bị khống chế bởi phiiền não. Bạn hãy phát khởi tâm niệm trắc ẩn và bi tâm thay vì nổi giận. Điều đơn giản nhất là, nếu những người nào có thể chế phục được tình cảm của họ thì họ chẳng bao giờ hãm hại bạn bởi vì những gì họ tầm cầu cũng là an lạc hạnh phúc mà thôi.” (9)

Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nhấn mạnh rằng “Những người chung quanh cũng sẽ không được an lạc vì sự sân tức đã gây tạo nên bầu không khí xấu xa quanh bạn. Phẫn nộ và sân hận thiêu đốt khả năng phán đoán của bạn; thay vì hồi báo ân đức, cuối cùng bạn lại phiền muộn và thậm chí sanh tâm trả thù. Nếu nội tâm chất chứa dẫy đầy thịnh nộ và sân hận, thì dẫu với những sung mãn vật chất, bạn cũng sẽ chẳng mảy may vui sướng nào vì bạn sẽ liên tục bị tình cảm dày vò. Tri nhận được điều này, bạn hãy tận lực tu hạnh nhẫn nhục và hãy cố gắng lìa bỏ tâm sân và tâm hận.” (10)

Biết dược sân hận do đâu mà ra, ý thức được những hậu qủa tai hại của sân hận, nhưng làm cách nào để giải trừ sân hận?

Theo Ngài Khantipa`lo Bikkhu, “Một người thuộc Sân tánh thì nhạy bén khi nhìn thấy các điều không ưa, không thích. Nhưng với tu tập, vị ấy có thể thay đổi cái đặc tính không lành mạnh này sang sự nhạy bén trong việc nhìn thấy các ý nghĩa trong Phật pháp”. Ngoài ra, “người thuộc loại căn tánh bị chế ngự bởi Sân, dù thuộc căn tánh khó khăn, cũng phải phát triển đức tính Hòa ái.”.

Ngài Khantipa’lo Bikkhu nhấn mạnh rằng sự chú tâm đến việc đối đãi với kẻ khác và môi trường sống rất quan trọng trong việc phát triển đức tính Hoà ái. “…sống ở một nơi mà người ta không khơi dậy được sự sân hận...dần dần người ấy sẽ học được sự kiên nhẫn và từ hòa”.

Ngài khuyên, “thiền quán về những đức hạnh của Đức Phật”, đặc biệt là hạnh Nhẫn nhục sẽ giúp người mang tâm sân hận và có Sân tánh giảm bớt dần dần tâm Sân, tánh Sân trong khi phát triển đức tính Hòa ái trong thời gian tu tập (11).

Thiền quán hay thiền định, theo Đức Đạt Lai Đạt Ma, là “trạng thái tâm lý chuyên tâm nhất trí đối với thiện cảnh”. Thiền Định cũng là phương cách tu tập để chuyện hoá tâm thức bình thường, tán loạn và khó chế phục của con người thành tâm thức có thể kiểm soát và điều ngự được tới mức độ thiền giả có thể nhắm đến bất cứ thiện cảnh nào mà họ lưa chọn. Muốn cho sự thiền định có hiệu qủa, thiền giả phải thiền quán một cách có hệ thống.- thế ngồi toạ thiền và điều hòa hơi thở đúng cách - dưới sự hướng dẫn của các thiền sư hoặc thiền giả có kinh nghiệm. Lúc khởi sự, người thực hành thiền quán phải bắt đầu bằng việc toạ thiền với những thời khóa ngắn và gia tăng dần dần tùy theo khả năng của mỗi người. (12)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tác giả cuốn “Giận” do Lá Bối xuất bản năm 2004 đề nghị phương pháp giải hóa giận dữ, sân hận bằng cách tập lắng nghe người đang giận dữ với tâm từ bi, thực tập hơi thở chánh niệm (hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười), để ý đến vấn đề ăn uống (ăn vừa đủ no, bớt ăn thịt mà ông cho là loại thức ăn mang nhiều chất sân hận), và thực tập Năm Chánh Niệm (Con nguyện tôn trọng sự sống, không sát hại sinh mạng…; con nguyện học theo hạnh từ bi để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người, mọi loài..; con nguyện không tà dâm..không ăn nằm với những người không phải là vợ hay là chồng của con..; con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người …; con nguyện không uống rượu, không xử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có chất độc tố trong số đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò…) (13)

Sách về Thiền và các phương pháp thiền quán bằng Việt ngữ hiện có bày bán tại hầu hết các tiệm sách Việt-nam. Trong số này có cuốn “Sen Búp Từng Cánh Nở” của Thích Nhật Hạnh là một tài liệu giản dị, hữu ích gồm “:những bài thiền tập hướng dẫn có công năng chuyển hoá và trị liệu”.(14)

Phần trên đã bàn về giận dữ và sân hận, trong phần này người viết xin được trình bày một số điều về nhẫn nhục.

Khi bàn về Nhẫn nhục, Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích rằng “Nhẫn nhục là một trạng thái nhẫn nại tự chế khi đối diện với những hãm hại trừng phạt của kẻ khác” .Tự chế và không phiền não trước những hãm hại, sỉ nhục của người khác là loại nhẫn nhục đầu tiên mà chúng ta có thể luyện tập được. Loại nhẫn nhục thứ hai là “tự nguyện gánh vác các khổ đau và ách nạn” và loại nhẫn nhục thứ ba là “kham nhẫn mọi cực khổ khi dấn thân tu hành theo giái pháp của Phật.” (15)

Theo Hoà Thượng Tuyên Hóa (Venerable Master Hua), người Trung Hoa thì “Pháp môn quan trọng nhất của người tu hành là pháp nhẫn nại”. Ngài kể rằng tiền thân của Đức Phật là Bồ Tát Thường Bất Khinh, một vị Bồ Tát chuyên tu hạnh nhẫn nại. Để tỏ lòng kính trọng mọi người vì coi họ là các vị “Phật sẽ thành”, Ngài gặp ai cũng lạy. Có người không thích được lạy đã đá vào mặt Ngài khiến Ngài bị gẫy hai răng cửa. Bị đánh đập như vậy mà Ngài vẫn chẳng sân hận, vẫn tiếp tục đứng xa mà lạy để thực hành hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật. (16).

Người xưa thường nói “Một sự nhịn, chín sự lành”. Điều này cũng giống như hai câu kệ sau đây:

Nhẫn phiến khắc, phong bình lãng tĩnh,
Thối nhất bộ, hải khoát thiên không.
(Nghĩa là: Nhẫn một giây, gió im sóng lặng.
Lùi một bước, biển rộng trời trong.) (17)

Trong chuyến viếng thăm Pháp quốc năm 1993, khi thuyết giảng về tôn giáo và hạnh phúc của con người, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh rằng:”Trong đời sống này chúng ta sẽ có kẻ thù, những người có ý muốn hoặc đang thật sự hãm hại ta. Tuy nhiên yếu tính căn bản của Phật giáo, đặc biệt Phật giáo Đại thừa, là lòng nhân ái, từ bi và bồ đề tâm, tâm thức của giác ngộ. Thế nên nếu sự giận dữ và thù hận phát khởi trong ta, sức mạnh của lòng từ bi và tinh thần giác ngộ của ta phải có đủ năng lực để chống lại chúng. Bởi vậy nhẫn là một đức tính cần thiết mà mỗi người Phật tử cần phải có. Không có hạnh nhẫn nhục không thể thực hành Bồ Tát Đạo.” (18)

Đức Đạt Lai Đạt Ma không phải là người giảng lý thuyết xuông. Không những Ngài luôn luôn cổ võ và ca ngợi việc thực hành hạnh nhẫn nhục và tinh thần bất bạo động, mà ngài còn kiên trì áp dụng hạnh nhẫn nhục và phương pháp bất bạo động trong đời sống của Ngài Cụ thể là hiện nay, mặc dù đang sống lưu vong, Ngài vẫn lãnh đạo cuộc vận động giải phóng cho nhân dân Tây Tạng khỏi ách nô lệ của Trung Quốc bằng phương pháp bất bạo động theo gương Ngài Mathatma Gandhi của Ấn Độ.

Ngài tin rằng “Từ bi, hỉ xả, hy vọng và nhẫn nhục là những tình cảm tốt đẹp mà tất cả các tôn giáo lớn đều cố gắng phát huy và củng cố.” (19)



Lời Kết:

Sân hay sân hận là một trong ba nguồn gốc phiền não của đời sống. Giảm trừ hay đoạn diệt được tâm Sân, tánh Sân hay ít ra bớt đi được những phản ứng giận dữ khi nghe những điểu không “thuận nhĩ” chắc sẽ giúp ta giảm thiểu được phiền não và gia tăng cơ hội sống vui vẻ hơn.

Nhẫn hay nhẫn nhục là một trong Lục Độ Ba La Mật - Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Huệ - trong tiến trình tu tập của Bồ Tát.

 
Đề tài Sân Hận và Nhẫn Nhục nếu luận bàn cho rốt ráo cũng cần nhiều thì giờ và công phu. Bài viết ngắn này do đó không tránh được thiếu sót.

Nói thì dễ mà làm thì bao giờ cũng khó. Nếu không thực hành những điều mình học hỏi được thì dù có biết nhiều cách mấy cũng chỉ là vô ích.



Sau cùng, xin mượn mấy câu kệ sau đây để kết thúc bài viết này:

Mọi sự qua suông sẻ
Khó xả duy nổi nóng
Nếu quả không tức giận
Đó là hòn ngọc quý
Lại không biết hận người
Sự việc đều trôi chảy
Phiền não chẳng hề sanh
Lấy đâu tạo oan nghiệt?
Thường chỉ rặt trách người
Khổ đau chuốc mãi mãi. (20)


Nguyễn Đức Lâm,
San Jose, Hè 2005, Mùa Vu Lan



Tài liệu tham khảo:

(1) (2) (3) OSHO, “Tình Yêu và Hạnh Phúc”, bản dịch của Vạn Sơn, Osho International Foundation xuất bản tại California 2004, tr. 114-119.

(4), (5) (6) NINA VAN GORKUM, “Abhidhamma in the Daily Life”, bản dịch Việt ngữ tựa đề “Tâm Lý và Triết Học Phật Giáo Áp Dụng Trong Đời Sống”, Tỳ Kheo Thiện Minh biên dịch, xuất bản tại Việt-nam, 2001, tr. `85-98.


(7) (8) PABONGKA RINPOCHE, “Liberation in the Palm of Your Hand”A Concise Discourse on the Path to Enlightenment”, edited by Trijang Rinpoche, bản dịch Việ ngử của Thích Trí Hải, tựa đề “Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay”, Quyển Thượng, Xuân Thu xuất bản, 1998, tr. 294-295.

(9) (10) (12) (15) THE DALAI LAMA, “The way to Freedom”, tài liêu song ngữ, bản dịch tiếng Việt ngữ, tựa đề “Hướng Đến Con Đường Giải Thoát”, Nguyễn Thúy Phượng dịch, Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới xuất bản tại California, Hoa-kỳ năm 1999, tái bản năm 2000, tr. 456-470.

(11) KHANTIPA’LO BIKKHU, “Buddhism Explained”, 1967, bản dịch Việt ngữ, tựa đề “Tìm Hiểu Đạo Phật”, Chơn Thiện dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học Viêt Nam ấn hành, tr. 163-164.

(13) NHẤT HẠNH, “Anger” (Wisdom for Cooling the Flames), bản dịch Việt ngữ của Chơn Đạt, tựa đề “Giận”, Lá Bối xuất bản tại California, 2004, tr. 4-5, 15-21, 253-258.


(14) THÍCH NHẤT HẠNH, “Sen Búp Từng Cánh Nở”, Lá Bối xuất bản tại California, năm 1994.

(16) (17) (20) HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA (Veberable Master Hua’s Talks on Dharma), quyển 5, Buddhist Text Translation Society tại Hoa-kỳ phiên dịch và xuất bản, 2005, tr. 101-105., 183-184,

(18) (19) THE DALAI LAMA, “Beyong Dogma”, bản dịch Việt ngữ của Tâm Hà Lê Công Đa, tựa đề “Vượt Khỏi Giáo Điều”, xuất bản 2005 (không đề nhà xuất bản), tr. . 85 -86.