Thập Niệm Pháp Môn

(Pháp mười niệm này, ai ai cũng tu nổi, người bận rộn chẳng chuyên tu nổi thì nên thành tâm thực hành vào mỗi sáng, tối thì quyết định được vãng sanh).

Mỗi ngày sáng, tối hai thời, súc miệng xong; nếu không có tượng Phật thì hướng về phương Tây xá hoặc lễ bái. Có tượng Phật thì lễ Phật ba lạy, quỳ thẳng ngay ngắn, chắp tay, cung kính, dứt bặt các duyên, nhiếp tâm một chỗ, liên tiếp niệm Nam mô A Di Ðà Phật cho đến hết một hơi thì coi là một niệm. Mười hơi như thế gọi là Thập Niệm. Chỉ tùy theo hơi dài, ngắn, chẳng nệ vào số lần niệm Phật, chỉ lấy hơi thở làm hạn. Tiếng niệm chẳng cao, chẳng thấp, chẳng gấp, chẳng hoãn, nhịp nhàng, vừa phải, liên tục chẳng dứt. Ý nương theo hơi thở để nhiếp tâm khiến tâm chẳng tán loạn. Tâm đã thuần nhất thì công chẳng lớn lao hay sao? Pháp mười niệm này là do khi đức Di Ðà còn tu nhân đã có nguyện rằng: "Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu ta chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng vãng sanh thì chẳng lấy ngôi Chánh Giác". Vì thế, hành giả trọn đời thọ trì chẳng để gián đoạn. Khi kẻ ấy lâm chung, vì bổn nguyện lực, đức Phật sẽ đích thân đến tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Một khi đã sanh Tây phương liền chứng địa vị bất thoái, vĩnh viễn thoát cái khổ sanh tử, luân hồi vậy. Trân trọng, trân trọng. Niệm xong lại hồi hướng rằng:

"Nguyện con lúc lâm chung không chướng ngại. A Di Ðà Phật xa đón, Quán Âm rưới cam lộ trên đầu con, Thế Chí đặt đài vàng dưới chân con. Trong khoảng sát na lìa ngũ trược, như trong khoảng co duỗi cánh tay, về đến ao sen. Hoa sen nở rồi được thấy Từ Tôn, đích thân nghe được pháp âm rành rẽ. Nghe xong liền ngộ Vô Sanh Nhẫn, chẳng rời An Dưỡng, vào lại Sa Bà, khéo biết phương tiện cứu độ chúng sanh. Khéo dùng trần lao để làm việc Phật sự. Con nguyện như thế, xin Phật tự biết. Rốt ráo trong tương lai sẽ được thành tựu".