Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh

Quyển 48, Số 2012 A Trang 379

Truyền Tâm Pháp Yếu

Thiền Sư Hoàng Bá


Lời tựa

Có đại Thiền sư húy Hy Vận ở Huyện Cao An, Hồng Châu, trên gộp Thứu Phong, núi Hoàng Bá, là cháu đích tôn của Lục Tổ Tào Khê, là cháu của Tây Đường Bách Trượng Hoài Hải Thiền sư, ngài một mình ấn tối thượng thừa, xa rời văn tự, chỉ truyền nhất tâm, không có pháp khác, tâm thể cũng không, muôn duyên đều lặng lẽ, như vầng nhật lớn ở giữa hư không, ánh sáng chiếu rọi, không sót hạt bụi. Người chứng được không mối cả, không cạn sâu, người nói đến không lập nghĩa giải, không lập tôn chủ, không mở cửa ngõ, thảng ở đó là phải, đồng niệm tức là sai, như vậy là Phật thật. Vì thế, lời nói của ngài gọn gàng, lý ngài ngay thẳng, đạo của ngài thì cao vút, hạnh của ngài thì đơn độc, học đồ ở bốn phương đều vân tập về núi học hỏi, vừa gặp mặt ngài thì ngộ đạo, hải chúng qua lại có hơn ngàn người.

Bùi Hưu từ ngày ngộ đạo ở chùa Khai Nguyên, Hồng Châu, thờ kính thiền sư làm thầy, trải qua nhiều nơi, hằng theo ngày đêm vấn đạo. Niên hiệu Đại Trung năm thứ hai ở Uyên Lăng, cung thỉnh Thiền sư về an cư tại chùa Khai Nguyên, ngày đêm thọ pháp, nên mười phần nhận được một vài phần, mang ơn thầy dạy bảo, nhưng sợ tâm ấn, không thể phát dương, lại sợ đời sau không người được nghe tinh nghĩa, nên muốn lập thuyền pháp trao lại người sau. Tôi trở về núi Hoàng Bá,  chùa Quảng Đường, hỏi các pháp chúng trưởng lão về việc hằng ngày thường nghe, và những lời truyền tâm mà tôi được thọ nhận, biên thành Truyền Tâm Pháp Yếu, mục đích làm sáng tỏ Hoàng Bá tông môn.

Bùi Hưu cẩn bút


 Truyền Tâm Pháp Yếu


     Chư Phật và tất cả chúng sinh chỉ có một tâm này, không có pháp nào khác. Tâm ấy từ xưa đến nay chưa từng sanh, chưa từng diệt, không màu sắc, không hình tướng, không thuộc có không, không kể mới cũ, không phải dài ngắn, không có lớn nhỏ, vượt hẳn tất cả hạn lượng danh ngôn, tung tích, đối đải, đương thể là Nó, động niệm là sai, giống như hư không, không có ngằn mé, không thể đo lường. Chỉ có tâm này chính là Phật. Phật và chúng sanh cũng không có gì khác, chỉ vì chúng sanh chấp tướng tìm kiếm ở bên ngoài, càng tìm càng mất, trở thành đem Phật để tìm Phật, lấy tâm bắt tâm, suốt kiếp suốt đời không thể tìm đuợc. Họ không biết rằng dứt nhớ quên lo là Phật của mình hiện ra trước mặt. Tâm này tức là Phật. Phật chính là chúng sanh, vì khi làm chúng sanh tâm này cũng không mất, khi làm Phật tâm này cũng không thêm, nó gặp duyên thì có, duyên hết thì lặng lẽ. Nếu không tin chắc tâm này là Phật mà muốn trước tướng tu hành để cầu công dụng đều là vọng tưởng, cùng Đạo trái nhau. Tâm này chính là Phật, lại không có ông Phật nào khác, và cũng không có tâm nào khác. Tâm ấy sáng suốt lặng lẽ cũng như hư không, chẳng có chút tướng mạo, nếu khởi tâm động niệm là trái với Pháp thể, là bị chấp tướng. Từ vô thỉ đến nay không có vị Phật nào chấp tướng.

      Tu sáu độ muôn hạnh muốn cầu làm Phật là theo thứ lớp, vì từ vô thỉ đến nay không có vị Phật nào theo thứ lớp. Chỉ ngộ nhất tâm là không có một chút pháp nào có thể đuợc. Đây chính là ông Phật Thiệt. Phật và chúng sanh đồng một tâm không khác, giống như hư không, không lộn xộn và hư hoại. Như mặt trời chiếu khắp địa cầu, khi mặt trời lên cao, ánh sáng chiếu khắp thiên hạ nhưng hư không chưa từng sáng; khi mặt trời lặn, bóng tối trùm khắp thiên hạ, hư không cũng chưa từng tối. Cảnh sáng và tối, tướng của nó có thay đổi, nhưng tánh của hư không chưa hề thay đổi, tâm Phật và chúng sanh cũng như thế. Nếu cứ Quán Phật là tướng sáng chói thanh tịnh, giải thoát, và Quán chúng sanh có tướng tối tăm nhơ bẩn sanh tử, nếu hiểu theo cách này dù trải qua số kiếp như cát sông Hằng cũng không thể đuợc quả Bồ Đề, vì chấp vào TƯỚNG. Chỉ vì tâm này không có một pháp bằng vi trần có thể được. Chính tâm này là Phật. Người học đạo thời nay không đốn ngộ bản thể tâm này, rồi từ trên tâm đó thêm một cái tâm khác, hướng bên ngoài tìm Phật, chấp tướng tu hành đều là ác pháp, không phải con đuờng đến quả bồ đề. Cúng dường mười phương chư Phật không bằng một người học đạo vô tâm. Vì sao? Vì người vô tâm là không có tất cả vọng tâm. Thể nó vốn như như, trong như gỗ đá không động không lay, ngoài như hư không, không bị che lấp và chướng ngại, không năng sở, không chỗ nơi, không tướng mạo, không đuợc mất. Người cạn cợt không dám vào pháp này vì sợ lạc vào cái không vô ký. Không có chỗ nương gá nên cứ mong đuợc bờ mà bị lui sụt. Kể chung, tất cả mọi người ai cũng cầu được tri kiến, họ đâu biết rằng người được tri kiến thành tựu nhỏ như cọng tơ, người ngộ đạo kết quả to như non Thái. Bồ Tát Văn Thù hiển lý, Bồ Tát Phổ Hiền hiển hạnh, lý là tánh chơn không vô ngại, hạnh là lý tướng không cùng. Bồ Tát Quán Âm hiển lý Đại Bi, Bồ Tát Thế Chí hiển Đại Trí, Bồ Tát Tịnh Danh hiển Tánh Tướng không hai. Tất cả tiêu biểu của Bồ Tát trong tâm này đều có đầy đủ. Vì thế không lìa Tâm này mà ngộ là đúng.

      Nguời học đạo đời nay không căn cứ vào tâm này để giác ngộ rồi cứ ngoài tâm chấp tướng, giữ cảnh làm cho trái với Đạo. Chấp tướng tức tạo nghiệp. Tâm này không có vọng, lìa tất cả tướng, vì thế chư Phật và chúng sanh không sai khác. Chỉ cần vô tâm cùng vạn vật là đạt đến chỗ cứu kính. Người học đạo không giữ được vô tâm, dù lủy kiếp tu hành cuối cùng không thể thành được Đạo; bị công hạnh của ba thừa trói buộc không được giải thoát, do đó chứng được tâm này rất chậm chạp.

      Có người nghe pháp chỉ cần một niệm liền được vô tâm, có người chứng đuợc Tín, Hướng, Trụ mới được vô tâm, dù có dài ngắn tiến đến vô tâm, nhưng thực ra vô tâm này không có Tu Chứng, thật không có chỗ được, chơn thật chẳng đổi, chỉ cần một niệm chứng đắc là có thể vào thập địa, công hạnh bằng nhau không có sâu cạn. Chỉ người không biết vô tâm nên nhiều kiếp chịu khổ. Người vô tâm là không niệm khởi, tạo dữ hay lành đều là chấp tướng, đã chấp tướng, tạo nghiệp ác chắc phải luân hồi, tạo nghiệp thiện phải chịu vô vàn khổ sở.

      Người nhận pháp vô tâm này, pháp ấy chính là tâm; ngoài tâm không có pháp, tâm này tức là pháp, ngoài  pháp không có tâm, tâm tự nó cũng vô tâm và khó có cái vô tâm, nếu lấy cái tâm vô tâm đó sẽ thành chấp có, muốn biết nó thì thầm  nhận mà thôi, dứt hết nghĩ bàn. Nên nói: "Có lời nói là mất đạo, tâm tạo tác là rơi mất". Vì tâm này gốc nó là thanh tịnh, Phật và chúng sanh đều có, kể cả loài bò bay mái cựa với Phật và Bồ Tát cũng không khác gì. Chỉ vì chúng sanh chạy theo vọng tưởng phân biệt tạo ra nhiều thứ nghiệp. Nơi Phật quả thật ra không có một vật gì, chỉ là cảnh giới rổng suốt vắng lặng, trong sáng an lạc mà thôi. Nếu người đuợc vào cảnh giới này, sẳn có đầy đủ tất cả. Người trải qua nhiều a tăng kỳ tinh tấn tu hành, qua đuợc 53 vị và người chỉ một niệm chứng được nguyên lai từ Phật hướng thượng đều không có được một vật gì, xem lại công dụng trong nhiều kiếp giống như người cố gắng làm việc trong giấc mộng. Nên Phật dạy: "Ta ở nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác thật không có được gì, Phật Nhiên Đăng cũng không thọ ký cho ta. Pháp ấy vốn bình đẳng không có cao thấp, cũng gọi là Bồ Đề". Tâm Bản nguyên thanh tịnh này cùng với chư Phật và chúng sanh, thế giới, núi, sông, có tướng và không tướng, trùm khắp pháp giới mười phương, tất cả đều bình đẳng, không có tướng kia đây, Bản Nguyên thanh tịnh, tâm này thường tròn sáng trùm khắp. Người đời không biết chỉ chấp ở kiến văn giác tri là tâm, rồi bị nó che đậy, do đó không thấy đuợc bản thể của tinh minh, cần thực hiện vô tâm, bản thể nó tự hiện như mặt nhật trên không, chiếu khắp mười phương không chỗ chướng ngại. Người học đạo chỉ nhận ra kiến văn giác tri đã làm ra các động tác, nếu chấp kiến văn giác tri là tâm tức mất hết đường đi không chỗ nào để vào đạo. Kiến văn giác tri chỉ là những khoảng trống để lưu lộ ánh sáng của tinh minh, chứ không phải là tinh minh. Chúng ta ở nơi Kiến Văn giác tri mà nhận ra bản tâm, mà bản tâm không thuộc về kiến văn giác tri và cũng không lìa kiến văn giác tri mà có thể thấy, chỉ ở trên kiến văn giác tri mà khởi ra kiến giải, cũng không ở nơi kiến văn giác tri mà khởi ra động niệm, cũng không lìa kiến văn giác tri mà tìm tâm, cũng đừng bỏ kiến văn giác tri mà giữ một pháp khác; không phải chính nó, không trụ và không chấp nó, ngang dọc tự do chỗ nào cũng là đạo tràng.

      Người đời nghe nói Chư Phật truyền tâm pháp liền nghĩ trên tâm riêng có pháp, có thể chứng, có thể lấy, liền lấy tâm tìm pháp. Họ không biết Tâm chính là Pháp, pháp chính là tâm, nên không thể lấy tâm để tìm tâm, dù trải qua muôn kiếp kiếm tìm cũng không có một ngày được tâm. Họ đâu biết rằng ngay trong lúc vô tâm đó là gốc của các pháp. Như người lực sĩ quên trên trán mình có hạt châu cố tìm kiếm bên ngoài, chạy tìm khắp nơi trọn không thể tìm được, nếu gặp người trí chỉ cho, lúc đó liền thấy châu của mình xưa nay vẫn ở trên trán. Người học Đạo mê bổn tâm mình, không nhận ra ông Phật trong tâm mình, rồi chạy tìm bên ngoài, khởi các công hạnh căn cứ theo thứ lớp để chứng, nhiều kiếp cần  cầu vĩnh viễn không được thành đạo, không bằng thực hiện Vô-Tâm, chắc biết đuợc tất cả pháp vốn không có và cũng không thể được, không có chổ nương gá, không có năng sở, không động lai, vọng niệm liền thành Bồ Đề. Khi chứng đạo là chứng bản tâm mình, nhiều kiếp dụng công tu để đuợc Phật là Phật rỗng, như người lực sĩ khi được hạt minh châu, chính là hạt châu trên trán mình, cần gì ra sức tìm hạt châu bên ngoài. Nên Phật nói: "Ta ở nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác thiệt không có được một chút gì!" Ngài e người không tin nên dẫn chỗ thấy của năm mắt, chổ nói của năm lời chân thật không dối đó là nghĩa đế thứ nhất.

     Người học đạo đừng chấp tứ đại này làm thân, vì tứ đại không ngã, ngã cũng không có chủ. Đừng chấp Ngũ-uẩn làm tâm, vì ngũ uẩn không có ngã và không có chủ. Nên biết tâm ấy không ngã và không chủ, sáu căn hợp với sáu trần sanh ra sáu thức lại cũng như thế. Mười tám giới đã không thì tất cả đều không, chỉ có tâm mình lồng lộng trong sạch có cả thức thực và trí thực. Thân tứ đại đói khát khốn khổ, thuận theo cấp dưỡng, không sanh lòng tham đắm gọi là Trí Thực. Lòng thèm mùi vị dối sanh ra phân biệt chỉ mong ngon miệng, không sanh lòng nhàm chán gọi là Thức Thực.

      Thinh văn là người nhơn nghe tiếng mà ngộ, hàng Thinh Văn không liểu được tự tâm, từ chỗ nghe sanh ra hiểu biết, hoặc do thần thông, đoan tướng, ngôn từ vận động, nghe nói về Bồ Đề Niết Bàn, tu trải qua ba A Tăng Kỳ Kiếp mới thành đạo. Trái lại Phật Thừa chỉ cần ngay lúc ấy đốn ngộ tự tâm, biết mình xưa nay vốn là Phật, không một pháp có thể được, không một hạnh có thể tu. Đây là con Đường Vô Thượng, là Phật Chơn Như. Người học đạo chỉ sợ một niệm CÓ làm cho ngăn cách với Đạo, mỗi niệm đều VÔ TƯỚNG, mỗi niệm đều VÔ VI, đó là người học đạo thành Phật. Tất cả pháp không cần học, chỉ học không cầu và không chấp, vì không cầu thì tâm không sanh, không chấp thì tâm chẳng diệt, không sanh không diệt chính là Phật Thiệt.

      Tám muôn bốn ngàn pháp môn là đối với tám muôn bốn ngàn phiền não mà kiến lập, đây là phương cách giáo hóa, muốn tiếp dẫn nên tạm lập ra, thật không một pháp có thể được. Xa lìa tức là Pháp, biết xa lìa tức là Phật. Chỉ xa lìa tất cả phiền não, thật không có một pháp gì có thể được, như người bệnh, mắt thấy hoa đóm trong hư không, khi bệnh mắt hết, hoa không còn nữa. Người học đạo muốn đuợc yếu quyết chỉ ngay trên tâm mình, Cái gọi là Phật chính là Pháp Thân như hư không, hư không và pháp thân là một nên nó có khắp tất cả chỗ. Pháp thân và hư không không có tướng mạo khác, thì Phật và chúng sanh không có tướng mạo khác, sanh tử niết bàn không có tướng khác, lìa tất cả tướng là Phật. Phàm phu chấp cảnh, người Tu chấp Tâm, Tâm và cảnh đều quên, đó là Pháp Thiệt. Quên cảnh còn dễ chứ quên tâm thực vô cùng khó, người không dám quên tâm sẽ lạc vào cái không Vô-Lạc Mô Xứ (không có chổ dính), đâu biết rằng cái không vốn không phải là không, chỉ còn có một chơn pháp giới. Vì thế, Giác Tánh từ vô thỉ đến nay tuổi thọ đồng với hư không, chưa từng sanh chưa từng diệt, chưa từng có chưa từng không, chưa từng trẻ chưa từng già, không nơi chốn trong ngoài, không số lượng, không hình tướng, không sắc tướng, không âm thanh, không thể tìm cầu, không dùng trí tuệ mà biết được, không thể dùng ngôn ngữ để nói tới, không thể dùng cảnh vật để hiểu, không thể dùng công dụng mà đến. Tất cả Chư Phật, Bồ Tát cho đến bò bay mái cựa đều cùng tánh Niết Bàn này. Tánh là Tâm, Tâm là Phật, Phật là chính pháp. Một niệm lìa Chơn đều là vọng tưởng, không thể dùng Tâm mà cầu tìm Tâm, không thể dùng Phật để cầu Phật, không thể lấy Pháp để cầu Pháp. Nên người học đạo đi thẳng vào vô tâm để mặc nhận, khuấy tâm là sai, lấy tâm truyền tâm thật là chánh kiến. Cẩn thận đừng hướng bên ngoài đuổi theo cảnh, nhận cảnh làm tâm chẳng khác nhận giặc làm con. Vì có tham sân si nên lập ra Giới Định Huệ, nếu không phiền não đâu có Bồ Đề. Nên Tổ sư nói: "Phật nói tất cả Pháp để trừ tất cả Tâm, Ta không tất cả Tâm cần gì tất cả Pháp." Nguồn gốc của Phật tánh là thanh tịnh không có một vật, giống như hư không, dù đem vô lượng ngọc quý để trang nghiêm, rốt ráo không thể trụ. Phật tánh đồng với hư không dù dùng vô lượng công đức trí tuệ để trang nghiêm, rốt ráo không thể trụ.

      Sở dĩ nói pháp môn Tâm Địa là muôn pháp đều từ tâm này mà kiến lập, gặp cảnh là CÓ, không cảnh là KHÔNG, không thể ở trên tánh thanh tịnh mà giải thích phân biệt cảnh. Nói Định Huệ soi xét rõ ràng, thấy nghe hay biết lặng lẽ, tỏ chiếu đều là trên cảnh làm việc giải thích, tạm vì người có căn cơ trung và hạ mà nói thì được, nếu muốn thân chứng đều không nên có kiến giải như thế. Cuối cùng của cảnh và pháp này đều phải tiêu mất, đã có chỗ tiêu mất là có nơi chốn. Chỉ cần ở trong tất cả pháp, không thấy pháp có và không là thấy đuợc pháp.

       Tổ Sư Đạt Ma đến Trung Quốc chỉ truyền một Tâm, chỉ nói một pháp, lấy Phật truyền Phật không nói vị Phật nào khác, đem pháp truyền pháp không nói pháp nào khác. Phật là ông Phật chính mình, đó là Tâm có nguồn gốc thanh tịnh xưa nay của chúng ta. Ngài chỉ truyền có một sự thực này, nếu có hai thì không phải là lẽ chơn thật. Bát Nhã dịch là trí tuệ, Tuệ này là Bản tâm vô tướng. Kẻ phàm phu không chịu theo đạo, chỉ nhớ sáu tình, làm theo sáu nẻo, người học đạo chỉ có một niệm phân biệt là lạc vào ma đạo, một niệm khởi ra các chấp, liền lạc vào ngoại đạo. Chấp có sanh, chạy theo tịch diệt là lạc vào Thinh Văn, không chấp có sanh chỉ chấp có diệt là lạc vào Duyên Giác. Pháp từ xưa vốn không sanh, đến nay cũng không diệt, không khởi hai chấp, không chán không ưa. Tất cả các pháp chỉ là nhất tâm, đó mới gọi là Phật Thừa.

      Phàm phu đều mê nơi cảnh mà sanh tâm, tâm liền có ưa chán, nếu muốn không luyến cảnh tâm phải quên, tâm đã quên cảnh sẽ không, cảnh đã không thì vọng tâm cũng diệt. Nếu không quên vọng tâm mà có trụ cảnh thì cảnh không thể trụ còn thêm nhiều quấy phá, muôn pháp chỉ do vọng tâm sanh, vọng tâm cũng không có lấy gì để tìm. Người học trí tuệ không chấp một pháp có thể được, dứt hẳn ý ba thừa, chỉ có nhất thừa chơn thật.. Từ không có chổ chứng đắc, nếu nói ta đã chứng, đã đắc đều là người tăng thượng mạn, như những kẻ khoát áo ra đi trên hội Pháp Hoa. Nên Phật dạy: Ta ở Đạo Bồ Đề không có chổ được, chỉ mặc khế mà thôi.

      Người khi sắp lâm chung chỉ Quán năm uẩn vốn không, tứ đại vô ngã, chơn tâm không tướng, chẳng đến chẳng đi, khi sanh tánh cũng không đến, khi chết tánh cũng không đi, lặng lẽ tròn sáng, tâm và cảnh đều nhất như, tỏ ngộ, chỉ được như vậy thì nghiệp duyên ba đời không thể trói buộc được. Đó chính là người xuất thế. Nếu thấy tướng lành như chư Phật đến rước hoặc thấy cảnh hiện tiền cũng không có tâm đi theo, nếu thấy ác tướng các cảnh ác hiện ra cũng không lòng sợ sệt, chỉ tự mình quên tâm, đồng với pháp giới, liền được tự tại. Đây là một yếu quyết.

      Nói Hóa thành, đó là giáo pháp quyền lập để tiếp dẫn hàng nhị thừa. Nói Bảo sở là nói cái quý báu của Chơn tâm hay nguồn gốc của tự tánh Phật. Chổ quý báu này không thuộc về sự đo lường của tình trần nên không thể kiến lập, vì nó không năng sở, không Phật và chúng sanh. Có người hỏi chỗ nào là Thánh? Câu hỏi này là hỏi về Hóa Thành, còn Bảo sở thì không thể chỉ, nếu chỉ cái gì thì cái đó phải có phương hướng và nơi chốn thì không phải là Bảo Sở rồi. Nên nói: Bảo sở là vật ở sát bên mình mà không thể định lượng hay nói năng, chỉ ngay lúc ấy hiểu thấu là đúng. Những người tạo tội xiển đề không thể tin được. Tất cả chúng sanh cho đến nhị thừa, ai không tin Phật Quả đều gọi là người tạo tội Xiển Đề, đoạn hết căn lành Phật Tánh. Người Tu hành phải trực ngộ tự tâm, nếu chỉ nghe giáo pháp rồi sanh ra biểu giải, ngộ theo giáo pháp được giải dù có trải qua nhiều kiếp cũng không thể chứng Phật Quả. Người tu cần yếu phải kết hợp với bổn tâm, không cần cầu pháp vì tâm chính là pháp.

      Có một số người bị cảnh làm trở ngại lôi cuốn tâm, nên thường muốn trốn cảnh để an tâm, dẹp sự, giữ lý, họ không biết rằng Tâm ngại cảnh, lý ngại sự, chỉ cần tâm không cảnh tự nó không, chỉ làm chỗ lý yên lặng, sự tự nhiên yên lặng, đừng bao giờ dùng ngược lại. Có người không dám trở về tâm không, vì sợ lạc vào không, họ đâu biết rằng Tâm vốn không. Người mê trụ cảnh không trụ tâm, kẻ trí trụ tâm không trụ cảnh, Tâm Bồ Tát như hư không, tất cả đều xã, làm được phước đức đều không tham trước.

      Bồ Tát xả có ba bậc:

1. Thân tâm trong ngoài tất cả đều xã cũng như hư không, không có chỗ chấp trước, sau đó, tùy theo phương cách mà ứng vật, năng và sở đều quên gọi là Đại Xã.

2. Hành đạo bố đức một phía hỉ xã không có lòng hy vọng gọi là Trung Xã

3. Rộng tu các pháp lành có chỗ hy vọng. Bậc này nghe pháp biết các pháp là không, nên không chấp gọi là Tiểu Xã. Bậc đại xã như đuốc lửa ở trước mắt không còn mê ngộ.  Bậc trung xã như đuốc lửa ở cạnh bên hoặc tối hoặc sáng. Bậc tiểu xã như đuốc lửa phía sau khó thấy đuợc hầm hố. Nên Bồ Tát Tâm như hư không tất cả đều xã. Biết tâm quá khứ không thể đuợc là xã tâm quá khứ, biết tâm hiện tại không thể được là xã tâm hiện tại, biết tâm vị lai không thể được là xã tâm vị lai, nên nói ba đời đều xã hết.

      Từ Đức Như Lai phó giao cho Ngài Ca Diếp đến nay đều lấy tâm in vào tâm, mỗi tâm đều không sai khác. In vào không là in không thành văn, in vào vật tức là in không thành pháp, nên lấy tâm in tâm mỗi tâm đều y như nhau, chổ năng in và sở in đều không khế hội, nên người được ít, nhưng tâm vốn vô tâm, được vốn không được. Phật có ba thân: Pháp thân nói về pháp tự tánh rỗng thông, Báo thân nói về pháp tất cả thanh tịnh, Hóa thân nói về pháp lục độ vạn hạnh. Pháp thân nói pháp không thể tìm trong ngôn ngữ, âm thanh, hình tướng, không chỗ nói đến và không chỗ chứng, tự tánh ấy rỗng thông không ngại, nên nói: Không pháp để nói gọi là thuyết pháp. Báo thân, Hóa thân đều tùy theo cơ mà ứng hiện, chỗ nói pháp đều theo chỗ hợp căn cơ mà nhiếp hóa, nên không phải là pháp chơn thật, nên nói báo thân và hóa thân không phải là Phật thiệt, cũng không phải là người nói pháp.

      Một Tinh-Minh chia ra làm sáu hòa hợp. Một tinh minh là Nhất Tâm, sáu hòa hợp là sáu căn, sáu căn này đều hợp với sáu trần. Mắt hợp với sắc, tai hợp với tiếng, mủi hợp với hương, lưỡi hợp với vị, thân hợp với xúc, ý hợp với pháp rồi sanh ra sáu thức là 18 giới đều do hòa hợp mà sanh nên không phải có. Gồm sáu hòa hợp vào một tinh minh, một tinh minh là Tâm. Người học đạo đều biết việc này nên khỏi giảng giải một tinh minh sáu hòa hợp, nếu có giải là bị pháp trói buộc không hợp với bản tâm.

      Đức Như Lai ra đời muốn nói pháp chơn thật nhất thừa, nhưng chúng sanh không tin lại sanh lòng bài báng nên chìm đắm trong bể khổ. Nếu chúng sanh bị rơi vào xan tham mà không nói diệu đạo, thực hành pháp xã để cởi mở sự trói buộc thì đến bao giờ chúng sanh mới hết khổ, nên mới lập phương tiện nói pháp tam thừa. Thừa có nhỏ lớn nên chỗ được có cạn có sâu, đều không phải là pháp căn bản. Nên Cổ Đức nói: Chỉ có một nhất thừa, có hai chẳng phải chơn. Nhưng cuối cùng nhiều người chưa hiểu rõ đuợc pháp nhất tâm, nên Phật mời Ngài Ma Ha Ca Diếp đồng pháp tòa riêng phó pháp nhất tâm, lìa ngôn từ nói pháp. Đây là một chi nhánh pháp đi riêng, nếu người có thể khế hợp, liền thẳng đến Phật Quả.

      Để nhận định rõ pháp nhất tâm này ta hãy xem qua đoạn đối đáp của Hoàng Bá Đoạn Tế Thiền Sư và Thừa Tướng Bùi Hưu.

      Hỏi: Thế nào là đạo, làm thế nào để tu hành?

      Đáp: Đạo là vật gì mà ông muốn tu hành.

      Hỏi: Các Bậc Tôn Sư đều tiếp nối truyền tham thiền học đạo thế nào?

      Đáp: Chỉ tiếp dẫn những hàng độn căn mà nói, không thể căn cứ vào đó được.

      Hỏi: Nói là tiếp độn căn, còn tiếp thượng căn nói pháp gì?

      Đáp: Là Bậc Thượng căn đâu còn gì để tìm ở người khác, tự mình còn có chỗ không thể đuợc, hà huống có pháp riêng để tiếp sao? Không thấy trong giáo pháp nói: Các pháp đều không có tướng trạng.

      Hỏi: Nếu như thế thì không cần cầu pháp?

      Đáp: Nếu tâm lúc đã tĩnh ngộ tại sao lại đoạn tuyệt sự tìm cầu.

      Hỏi: Như thế không cần đoạn tuyệt nó phải không?

      Đáp: Ai bảo nó là không, Nó là ai mà ông đi tìm nó!

      Hỏi: Đã không chổ tìm cớ sao lại nói không đoạn tuyệt nó?

      Đáp: Nếu không tìm là được ai bảo ông đoạn tuyệt nó, Ông hãy nhìn hư không trước mắt làm sao đoạn tuyệt với hư không?

      Hỏi: Pháp ấy có đồng với hư không chăng?

      Đáp: Hư không từ sáng đến tối đều có mặt, ở chung nhưng khác với ta, tạm nói như vậy để từ đó ông thấy đuợc.

      Hỏi: Như thế nó vượt ngoài sự hiểu biết của con người?

      Đáp: Ta không hề chướng ngại, vì hiểu biết thuộc về tình, tình đã sanh ra thì trí tuệ bị ngăn cách.

      Hỏi: Như thế muốn tiến tới đó đừng sanh tình phải không?

      Đáp: Nếu không sanh tình lấy ai để nói?

      Hỏi: Vừa nghe Hòa Thượng nói, lời ấy có đọa lạc không?

      Đáp: Ông thật không hiểu lời người nói thì có gì bị đọa lạc.

      Hỏi: Nếu lời nói là sai thì thầy chưa từng có lời thật để dạy người?

      Đáp: Pháp Thiệt nó vốn không điên đảo, ông nay hỏi đến tự mình đã sanh ra điên đảo, làm sao tìm đuợc pháp thiệt.

      Hỏi: Nếu hỏi là tự sanh điên đảo còn lời Hòa Thượng đáp thế nào?

      Đáp: Ông hãy tự soi mặt mình xem đừng xem người khác. Một con chó dại thấy tiếng động, vật lai liền sủa, dù gió thổi cây động cũng không biết. Thiền Tôn từ sơ Tổ tương truyền chưa từng dạy người tìm cầu hiểu biết, chỉ nói kẻ học đạo sơ cơ cần có lời tiếp dẫn, nhưng Đạo cũng không thể học. Tình còn ở nơi chổ học hiểu liền thành đường mê. Đạo không có chỗ nơi gọi là tâm đại thừa. Tâm ấy quả thực không có trong ngoài chặn giữa, thật không có chỗ nơi. Đặc biệt không đuợc làm việc tri giải. Ông hôm nay lấy tình để so lường, tình so lường đã hết tâm cũng không còn phương sở. Đạo vốn thiên chơn không có danh tự, chỉ vì người đời không biết mê theo tình đặt nhiều tên chữ. Vì thế Chư Phật ra đời cốt phá việc này, e các ông không hiểu nên quyền lập lấy tên là ĐẠO. Vì thế không thể chấp lấy tên chữ để phân biệt so lường. Người xưa nói: Được cá quên nôm, thân tâm tự nhiên đạt Đạo, biết Tâm hiểu được Bản nguyên gọi là Sa-Môn.

      Bậc Sa Môn dứt suy nghĩ mà thành, không phải nhờ có học mà được, ông hôm nay lấy tâm tìm tâm, chạy sang nhà bên cạnh, cố tìm học biết bao giờ mới được Đạo. Người xưa tâm rất nhạy bén, chỉ nghe được một lời là tâm dứt tất cả việc học, do đó gọi "Tuyệt học, không làm (vô vi) là người Đạo nhân rồi". Ngày nay người học Đạo chỉ muốn biết nhiều giải nhiều, rộng câu văn nghĩa gọi là Tu Hành, không biết rằng: biết nhiều hiểu nhiều trở thành bí lấp. Người ưa biết có tiêu hoặc có hại gì không? Bậc Tam Thừa học đạo cũng giống như trẻ uống sửa, ăn vào cho nhiều không tiêu, đã không tiêu sẽ biến thành thuốc độc, tất cả đều chấp theo sanh diệt còn trong chơn như không hề để tâm tới. Nên Cổ Đức nói: Trong kho của vua ta chẳng có vật gì. Nếu từ trước có hiểu rõ như thế, tất cả đều yên tịnh, làm cho tâm trống không, không còn gì để phân biệt, tức là Không Như Lai Tạng.

      Như Lai Tạng không dính một mải trần, là vị Pháp vương pháp hữu ở thế gian. Nên Đức Thế Tôn cũng nói: Ta ở nơi Phật Nhiên Đăng không có một chút pháp gì có thể được. Lời nói ấy là không. Nếu so lường tình chấp đã tiêu tan hết, tình đã dứt không có gì nương theo để chấp. Đó là người Vô-Sự. Giáo lý dạy cho ba thừa chỉ là thuốc trị bệnh, tùy nghi mà giải nói, mỗi pháp đều không đồng, nếu hiểu được ý ấy sẽ không còn mê lầm. Điều quan trọng nhất là đừng bao giờ đối với một căn cơ mà biến thành vấn đề giải thích. Vì sao? Vì Như Lai không có một pháp để nói. Ở trong tông môn ta không luận việc văn tự ấy. Chỉ biết tâm an là đuợc, cần gì nghi trước lo sau.

      Hỏi: Từ trước đến giờ luôn luôn nói Tâm ấy là Phật, không biết Tâm Phật ấy là tâm nào?

      Đáp: Ông có mấy tâm?

      Hỏi: Tâm phàm là Phật hay tâm thánh là Phật?

      Đáp: Tâm Phàm Thánh của ông ở chổ nào?

      Hỏi: Ở trong tam thừa nói có phàm thánh sao Hòa Thượng nói là không?

      Đáp: Trong tam thừa ta đã nói rõ, Tâm phàm và tâm Thánh đều là vọng, ông nay không hiểu lại chấp là có, lấy không làm thật, há chẳng phải là vọng sao? Vọng nên tâm mê, Ông nay chỉ cần bỏ hết tình phàm cảnh thánh, thì ngoài tâm ấy ra không có ông Phật nào khác. Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ sang, chỉ tất cả mọi người toàn thể là Phật. Ông nay không biết, chấp phàm chấp thánh, hướng bên ngoài dong rủi kiếm tìm, lại tự tâm mê. Sở dĩ ta nói với ông Tâm chính là Phật, vì một niệm tình sanh tức rơi vào đường tà, từ vô thỉ đến nay Tâm vẫn thế ấy, không có pháp nào khác nên gọi là thành đẳng chánh giác.

      Hỏi: Hòa Thượng nói thế ấy là lý lẽ gì?

      Đáp: Tìm ra lý lẽ để làm gì, vừa có lý lẽ Tâm đã đổi.

      Hỏi: Trước Hòa Thượng nói vô thỉ đến nay tâm vẫn thế ấy, lý do thế nào?

      Đáp: Chỉ vì ông cố tìm, nên chính ông đã thay đổi, nếu ông không cố tìm thì không có gì thay đổi.

      Hỏi: Nếu đã không thay đổi cần gì nói chính tà?

      Đáp: Nếu ông không tin có phàm thánh thì đâu ai nói với ông chính là. Nó không phải chính là, Tâm cũng không phải tâm thì trong tâm đều là vọng lại muốn chạy đến chỗ nào tìm.

      Hỏi: Vọng hay làm chướng ngại tự tâm, không biết làm sao cho hết vọng?

      Đáp: Khởi vọng, nuôi vọng, trở thành vọng, vọng vốn không có gốc rể, chỉ nhơn phân biệt mà có, ông chỉ cần trong tình cảm dứt sạch thánh phàm, tự nhiên không còn vọng nữa. Dứt bỏ hai bên không còn một chút chấp trước. Nên Cổ Đức nói: "Bỏ cả hai tay tự nhiên thành Phật".

      Hỏi: Đã không còn chấp giữ làm sao có sự truyền thừa?

      Đáp: Lấy tâm truyền tâm.

      Hỏi: Nếu nói lấy tâm truyền tâm lại nói tâm cũng không có?

      Đáp: Không được một pháp gọi là truyền tâm, nếu hiểu tâm ấy là không tâm và không pháp.

      Hỏi: Nếu không tâm, không pháp sao gọi là truyền?

      Đáp: Ông nghe nói truyền tâm tưởng đâu là có người được, thực ra Tổ Sư dạy: " Khi nhận đuợc tâm tánh rồi, có thể nói chỗ ấy không thể nghĩ bàn, rõ ràng không  có chỗ nhận được". Khi được không nói là có biết, việc ấy nếu dạy ông làm sao hiểu?

      Hỏi: Như hư không trước mắt có thể không phải cảnh, đâu không phải chỉ cảnh để thấy tâm?

      Đáp: Ai bảo ông hướng trên cảnh để thấy, dù ông có thấy được cũng chỉ là cái cảnh được chiếu từ tâm như ông dùng gương để soi mặt, dù ông có thấy mặt, lông mi rõ ràng, nhưng cái ông thấy trong gương chỉ là ảnh tượng, đâu có liên hệ gì với mặt thiệt của ông. Nếu không nhơn bóng chiếu trên gương mà khéo nhận ra thì bao giờ mới thấy đuợc. Muốn chỉ chỗ không chỉ tới cần phải muợn vật. Khi ông đã được liễu ngộ, ông mới thấy không có người nào chỉ được mình, đúng như Cổ Đức nói:

Phủi tay thật mình không một vật,

Uổng công lãi nhãi đến muôn ngàn

      Hỏi: Thế nào là thế Đế?

      Đáp: Hỏi quanh quẩn để làm gì? Tánh Phật xưa nay vốn thanh tịnh, cần gì hỏi đáp, chỉ cần không có tất cả tâm gọi là vô lậu trí. Ông hằng ngày đi đứng, nằm, ngồi, tất cả lời nói, chỉ cần đừng chấp hửu vi thì mở lời, liếc mắt đều thành vô lậu. Thời mạt pháp này, phần nhiều những người học thiền đều chấp thinh sắc, sao không biết rằng tâm của ta đồng với hư không, như cây khô, gộp đá, như tro lạnh lửa tắt, biết như vậy mới có chút ít phần tương ứng với tâm. Nếu không được như thế nhất định có một ngày diêm vương gọi đến. Ông nếu lìa hết pháp có không, tâm như mặt trời thường ở trong hư không, ánh sáng tự nhiên không muốn chiếu mà vẫn chiếu sáng không cần cố gắng thêm. Đến lúc ấy không có chỗ nương gá, đó chính là hạnh của chư Phật, cũng chính là "nên ở nơi không chỗ trụ mà sanh tâm ấy". Đây là thanh tịnh pháp thân của ông, cũng gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nếu không hiểu được ý này dù ông học rộng biết nhiều, tu hành cần khổ, áo cỏ, rau dưa, không biết đuợc tu tâm đều gọi là tà hạnh, chắc chắn là quyến thuộc của ma, tu hành như thế có lợi ích gì?

      Hòa Thượng Chí Công dạy: Phật vốn do Tâm sao lại tìm trong văn tự! Dù Ông học được ba hiền bốn quả, mười địa đầy lòng cũng chỉ ngồi ở trong phàm và thánh, làm sao thấy được đạo. " Các hành vô thường là pháp sanh diệt, như bắn tên lên không trung, sức đã hết mủi tên dội xuống, chỉ làm những việc không vừa ý. Vào cửa vô vi thật tướng rồi, một bước đi vào thẳng đất Phật". Vì ông không biết có nhơn chỉ kiến lập phương pháp tạm thời, lại khăng khăng muốn biết nhiều học rộng. Ông hôm nay trong tất cả thời đi, đứng, nằm, ngồi, gắng học Vô-Tâm, dần dần định lực thành tựu, vì sức tu kém không thể thành công ngay, phải cần ba năm, bốn năm hoặc mười năm, khi khai tỏ rồi đầu mới tự nhiên hiểu rõ. Nếu không thực hành như thế chạy theo học Thiền học Đạo làm sao có thể vào bể Phật Pháp đuợc. Kinh nói: Như Lai nói Pháp cốt để dạy người, như đem lá vàng nói là vàng để dổ trẻ con nín khóc, quyết định không thật, nếu chấp là thật, không phải là người của Tông môn ta, làm sao vào đuợc bản thể? Kinh dạy: Thật không có một pháp có thể được nên gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Hiểu được ý ấy mới biết Phật đạo với ma đạo đều lầm, vì bản lai vốn trong sạch sáng rỡ, không có các tướng vuông tròn, lớn, nhỏ, dài, ngắn, vô lậu, vô vi, không mê, không ngộ, thấy rõ ràng không sót một vật, cũng không người, cũng không Phật, đại thiên cỏi cát như bọt trên đại dương, tất cả thánh hiền như điện nháng. Tâm chơn thật pháp thân từ xưa đến nay cùng loài với Phật Tổ không có thiếu một mải lông. Đã hiểu đuợc ý ấy cần phải gắng sức giác ngộ ngay, vì thân này vốn huyển mộng.

      Hỏi: Tổ Huệ Năng không biết chữ sao lại đuợc truyền Y Bát làm tổ? Thần Tú là Thượng Thủ trong năm trăm nguời, làm thầy giáo thọ giảng đuợc 32 thứ kinh luận, vì sao không đuợc truyền y?

      Đáp: Vì Thần Tú có hữu vi tâm nên có hữu vi pháp, chỗ tu chỗ chứng đều là hữu vi. Ngũ Tổ phú pháp cho Tổ Huệ Năng vì Huệ Năng mật khế thâm ý Như Lai, nên được truyền mật chỉ, ông đọc bài kệ phú pháp thì rõ.

Gốc pháp vốn là pháp không có pháp

Pháp không có pháp cũng là pháp

Nay phú pháp không pháp này

Mỗi pháp đều là pháp

      Nếu hiểu ý đó mới gọi là người xuất gia, mới có thể tu hành. Một dẫn chứng để thấy rõ: Thượng Tọa Huệ Minh lẹ đến đỉnh núi tìm Lục Tổ. Tổ hỏi: Ông đến đây vì Y hay vì Pháp? Huệ Minh đáp: Không vì Y mà đến, chỉ vì Pháp mà đến. Lục Tổ dạy: Ông tạm thời bặt nghĩ, thiện ác đều không nghĩ đến. Huệ Minh vâng lời. Giây lát, Tổ hỏi: Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác, chính đương lúc ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh. Huệ Minh sau lời nói ấy bỗng nhiên Đại ngộ, liền lễ bái nói: Như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Tôi ở trong hội Ngũ Tổ uổng công dụng tu 30 năm, ngày nay mới biết sai lầm trước. Tổ dạy: Đúng thế! Phải biết đến lúc ấy mới biết Tổ Sư từ Ấn Độ sang, chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật không cần ở lời nói. Đâu không thấy A-Nan hỏi Tổ Ma Ha Ca Diếp: Thế Tôn truyền kim lan pháp y cho Sư huynh, ngoài ra còn truyền vật gì nữa không? Tổ Ca Diếp gọi: A-Nan! A Nan : Dạ. Tổ Ca Diếp: Cây phướng trước chùa ngã rồi! Đó là phiêu chuẩn của Tổ Sư. A Nan 30 năm làm thị giả chỉ được trí tuệ nghe nhớ nhiều, bị Phật quở :Ông ngàn ngày học huệ không bằng một ngày học đạo, nếu không học đạo, của tín thí khó tiêu.

      Hỏi: Làm thế nào để không lạc vào thềm bậc?

      Đáp: Ăn cơm suốt ngày chưa từng nhai một hạt cơm, đi suốt ngày chưa từng đạp một hạt cát, cũng trong lúc ấy không có tướng ngã nhơn, suốt ngày không lìa tất cả việc mà không bị các cảnh làm mê hoặc, mới gọi là người tự tại. Chỉ cần mỗi giờ mỗi niệm không thấy tất cả tướng. Dung nhan ba phía trước sau. Phía trước không có đi qua, phía này không trụ, phía sau không đến, an nhiên ngồi thẳng, chẳng chấp lại qua, mới gọi là giải thoát. Gắng sức! Gắng sức! Trong tông môn ta, muôn người, ngàn người chỉ được năm, ba người. Nếu không cố gắng chắc có ngày mang họa, nên Kinh dạy:

Gắng sức một đời xong tất cả

Lo gì nhiều kiếp chịu tai ương.